Vai trò của thông tin không gian địa lý đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

27/05/2024

TN&MTDữ liệu không gian địa lý đóng vai trò rất quan trọng trong tất cả các nền kinh tế quốc dân; đặc biệt là trong giai đoạn phát triển công nghiệp 4.0, phát triển các chương trình số hóa như hiện nay. Trong hệ thống thông tin, thông tin không gian địa lý giữ một vai trò quan trọng để phát triển thành phố thông minh, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường,… Phóng viên Tạp chí Tài nguyên và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Phi Sơn - Viện trưởng Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ để hiểu rõ hơn về nội dung trên.

Vai trò của thông tin không gian địa lý đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

Phóng viên: Xin ông cho biết vai trò của dữ liệu không gian đối với phát triển KT-XH phục vụ công tác quản lý lãnh thổ nói chung và quản lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT nói riêng?

Ông Nguyễn Phi Sơn: Dữ liệu không gian địa lý đóng một vai trò rất quan trọng trong tất cả các nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong thời đại 4.0. Với việc phát triển các chương trình số hóa, dữ liệu địa không gian là dữ liệu đầu vào cho các lĩnh vực, các ngành, các cấp trong QLNN, quản lý xã hội, phát triển kinh tế, BVMT, thích ứng BĐKH, đảm bảo QP-AN.

Cơ sở dữ liệu (CSDL) nền địa lý quốc gia gồm 7 gói dữ liệu cơ bản (Dữ liệu địa hình, dữ liệu thủy văn, dữ liệu giao thông, dữ liệu lớp phủ thực vật, dữ liệu dân cư, dữ liệu về địa giới hành chính, dữ liệu cơ sở đo đạc) với đặc tính dãy tỉ lệ lớn, có mức độ chi tiết cao về không gian, kèm theo các thuộc tính của đối tượng được thu nhận ở mức độ tối đa đã đảm bảo yêu cầu tối đa khai thác thông tin của nhiều bộ, ngành góp phần quan trọng trong hoạt động quản lý, thiết kế, thi công của các ngành khảo sát, thành lập các bản đồ chuyên đề, chuyên ngành của các lĩnh vực. Cùng với đó, tùy theo quy mô lãnh thổ và tỉ lệ của CSDL nền địa lý quốc gia mà các địa phương ứng dụng CSDL nền địa lý quốc gia trong quản lý lãnh thổ, quản lý hành chính, quản lý xã hội.

Không những thế, thông tin không gian địa lý cũng đóng vai trò quan trọng đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT. Dữ liệu nền địa lý làm cơ sở để hỗ trợ công tác đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, hiện trạng môi trường các cấp, quản lý các hệ sinh thái, bảo tồn và phát triển bền vững cảnh quan tự nhiên; hỗ trợ xác lập các trạng thái khí hậu, khí tượng, các quá trình thời tiết trong không gian và vùng lãnh thổ. Có dữ liệu địa lý sẽ giúp cho việc xác định phạm vi tác động ở từng địa phương, vùng lãnh thổ do BĐKH, phạm vi nước biển dâng, đánh giá rủi ro thiên tai, tính dễ bị tổn thương của các hệ thống sinh thái,... và còn có vai trò trong nhiều ứng dụng của 9 lĩnh vực trong ngành TN&MT.

Phóng viên: Ông có thể cho biết, thời gian qua, các bộ, ngành nói chung và ngành TN&MT nói riêng đã có đầu tư gì để xây dựng hệ thống dữ liệu không gian phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước?

Ông Nguyễn Phi Sơn: Ở nước ta, Chính phủ và các cơ quan QLNN đã sớm nhận thấy tầm quan trọng và những lợi ích to lớn từ dữ liệu không gian địa lý mang lại. Nhiều năm qua, các bộ, ngành nói chung và ngành TN&MT nói riêng đã tập trung đầu tư xây dựng hệ thống dữ liệu không gian địa lý phục vụ nhu cầu QLNN, phát triển KT-XH, đảm bảo QP-AN.

Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012, Chính phủ đã quan tâm đầu tư cho ngành đo đạc và bản đồ, trong đó có 2 dự án Chính phủ “Thành lập CSDL nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1:10.000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm cả nước” và “Thành lập CSDL nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1:2.000, 1:5.000 các khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm”. Đến nay, dữ liệu phục vụ xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia hiện có bộ dữ liệu khung và dữ liệu chuyên ngành.

Các thông tin, dữ liệu về ĐĐ&BĐ cơ bản, bao gồm hệ thống các điểm gốc đo đạc quốc gia, các mạng lưới đo đạc quốc gia, nền địa lý quốc gia, các loại bản đồ địa hình, biên giới, hành chính quốc gia, ảnh hàng không, dữ liệu ảnh viễn thám, dữ liệu địa danh được xây dựng đầy đủ theo tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất. Bên cạnh đó, nhiều bộ dữ liệu chuyên ngành đã được các lĩnh vực tạo ra như: Dữ liệu đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài nguyên rừng, địa chất khoáng sản, khí tượng thuỷ văn,... đều là số liệu điều tra cơ bản gắn với thông tin vị trí sẽ tạo thành dữ liệu địa không gian hoàn chỉnh, từ đó giúp cho các cơ quan quản lý ra quyết định đúng đắn, kịp thời và đầy đủ.

Trong số các trị đo cơ bản của lĩnh vực trắc địa bản đồ, thì trị đo “gia tốc trọng trường” hay được gọi là “trọng lực” là trị đo đòi hỏi phương tiện và phương pháp đo phức tạp. Thời gian qua, Viện Khoa học ĐĐ&BĐ đã triển khai thực hiện thành công các dự án đo trọng lực như: “Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống trọng lực Nhà nước”; Xây dựng mạng lưới điểm trọng lực tuyệt đối trên các đảo và ven bờ biển Việt Nam phục vụ công tác quan trắc độ dâng của mực nước biển trung bình; “Đo trọng lực cơ sở và vệ tinh của điểm trọng lực cơ sở giai đoạn 2016 - 2018 trong hệ thống trọng lực quốc gia phục vụ xác định sự thay đổi của trường trọng lực trên lãnh thổ Việt Nam”.

Hiện nay, Viện đang tham gia thực hiện dự án bay đo trọng lực chi tiết vùng núi bằng phương pháp trọng lực hàng không,... Đây là nhiệm vụ quan trọng của công tác điều tra cơ bản ở nước ta song song với các dự án điều tra cơ bản khác. Các dự án trọng lực góp phần vào việc hoàn thiện các số liệu cơ bản của quốc gia mà các số liệu này sẽ phục vụ nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều mục đích,... Kết quả của những dự án đo trọng lực đã được Viện khoa học ĐĐ&BĐ thực hiện phục vụ đắc lực cho các lĩnh vực nghiên cứu về khoa học Trái đất.

Phóng viên: Trước yêu cầu phát triển đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn đất nước, Viện KH ĐĐ&BĐ đã có giải pháp gì để đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong thu nhận, xử lý, cập nhật dữ liệu địa không gian trong thời gian tới là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Phi Sơn: Quá trình phát triển KT-XH và sự vận động của tự nhiên làm thay đổi các đối tượng, hiện tượng địa lý một cách thường xuyên và liên tục. Điều này dẫn đến CSDL nền địa lý quốc gia không kịp cập nhật sẽ bị lạc hậu theo thời gian. Để có một bộ dữ liệu nền tảng được cập nhật kịp thời, thống nhất, đồng bộ trên cả nước, phục vụ phát triển KT-XH, QP-AN, quản lý TN&MT, phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao dân trí, thì các giải pháp trong thành lập, cập nhật biến động đã từng bước tiến tới tự động hóa trong quy trình sản xuất nhằm thay thế phương pháp truyền thống trước kia.

Thời gian qua, Viện Khoa học ĐĐ&BĐ đã đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng phát triển công nghệ mới, công nghệ hiện đại trong thu nhận, xử lý, cập nhật và chia sẻ dữ liệu địa không gian như việc kết hợp dữ liệu đa nguồn gốc, áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng, thu nhận, xử lý, trích xuất dữ liệu sử dụng công nghệ AI và hệ thống thông tin địa lý tình nguyện (VGI),... Các công nghệ này giúp tăng tốc độ, độ chính xác, độ tin cậy và giảm chi phí cho cập nhật.

Thời gian tới, trước sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ hiện đại trong thu nhận dữ liệu, Viện cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu, chú trọng đầu tư, nâng cấp công nghệ mới trong chia sẻ dữ liệu địa không gian. Cùng với đó, Viện sẽ tiếp tục hình thành các nhóm nghiên cứu chuyên sâu trình độ cao trong một số hướng nghiên cứu phức tạp và mang tính định hướng công nghệ cho Ngành; tăng cường liên kết nghiên cứu giữa cơ quan QLNN, tổ chức nghiên cứu, các trường, các doanh nghiệp và các chuyên gia độc lập trong nghiên cứu khoa học để nghiên cứu, phát triển công nghệ trên thế giới và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Thủy Phương (thực hiện)
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 8 năm 2024

Tin tức

Triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong nghiên cứu chính sách ngành TN&MT

Thủ tướng: '5 quyết tâm', '5 bảo đảm' để thúc đẩy giải ngân, sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn gần 670 nghìn tỷ đồng

Rà soát, hoàn thiện dự thảo nghị định về kinh doanh bất động sản; xây dựng lại chung cư

Xây dựng thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh, mở không gian mới cho năng lượng tái tạo

Tài nguyên

Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Luật Đất đai năm 2024

Cống ngăn mặn lớn nhất Bắc miền trung sắp đưa vào vận hành

Tránh thất thu từ khoáng sản phát sinh

Bắc Giang: Ban hành Chỉ thị số 7/CT-UBND về triển khai Luật Đất đai năm 2024

Môi trường

Ninh Thuận chủ động ngăn chặn tình trạng đào gốc cây bằng lăng rừng

Xây dựng mô hình chuyển đổi xanh, sử dụng đất bền vững tại các khu vực trồng hoa

Rùa biển quay lại xã đảo Cù Lao Xanh đẻ trứng sau nhiều năm vắng bóng

Ứng phó với áp thấp nhiệt đới và mưa lớn

Video

Diễn đàn môi trường lần thứ III - Năm 2024

Chuyển đổi xanh - động lực tăng trưởng mới để phát triển kinh tế

Xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Thực trạng và giải pháp

Tạp chí Tài nguyên và Môi trường 20 năm xây dựng và phát triển

Khoa học

Kiểm kê nguồn thải phục vụ xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí tỉnh Trà Vinh

Việt Nam công bố trên 19.000 bài báo quốc tế/năm nhưng chỉ có 2 tạp chí Scopus

Điều chỉnh công nghệ khai thác cát sông tại Sóc Trăng

Khảo sát ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến một số tính chất đất, nước trên sông rạch và ương vườn tại huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang

Chính sách

Luật Đất đai quy định về cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất như thế nào?

Bình Dương: Sẽ xử phạt việc khai thác sử dụng thông tin KTTV không đúng quy định

Luật Đất đai quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như thế nào?

Tín dụng cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Mức cho vay tối đa 25 triệu đồng

Phát triển

Hội thảo: “An ninh - an toàn thực phẩm hướng đến du lịch xanh bền vững, chuyển hướng từ nhận thức đến hành động”

“Future Blue Innovation 2024” - Hành trình Xanh phụ thuộc vào thế hệ trẻ

Trường Đại học TN&MT TP. Hồ Chí Minh: Đa dạng ngành nghề để đào tạo những công dân tương lai có trách nhiệm với môi trường

Ninh Bình: Đến năm 2030 chấm dứt sử dụng hóa chất độc hại trong nuôi trồng thủy sản

Diễn đàn

Hòa Bình: Ban hành quyết định chuyển mục đích sử dụng 32,2 ha nằm tại xã Nhuận Trạch

"Rộng cửa" cho tín dụng xanh

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá yêu cầu các địa phương chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới và mưa lớn

Phát triển chuỗi cung ứng xanh: Cần điểm tựa chính sách