Ứng dụng mô hình DPSIR đánh giá mối quan hệ giữa sinh kế của người dân với các yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang

05/12/2023

TN&MTHuyện An Minh - tỉnh Kiên Giang với diện tích 59,058 ha có đường bờ biển trải dài qua 6 xã trên địa bàn. Sinh kế cộng đồng tại đây chủ yếu là nuôi trồng thủy sản (NTTS) và khai thác tài nguyên từ biển. Tuy nhiên, khu vực này có nguy cơ sạc lở cao và có khả năng nhiễm mặn > 4o/oo gây ảnh hưởng đến sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi (UBND tỉnh Kiên Giang, 2020). Ngoài ra, An Minh là điểm nóng được xác định trong phân tích rủi ro và tính dễ bị tổn thương về nông nghiệp và sinh kế (UBND tỉnh Kiên Giang, 2011). Từ những ghi nhận trên, mô hình DPSIR (Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng) được sử dụng để đánh giá hiện trạng và xác định các vấn đề quản lý tác động đến sinh kế của người dân ở vùng nghiên cứu.

Phương pháp thực hiện

Số liệu thứ cấp: thu thập điều kiện tự nhiên, các báo cáo kinh tế xã hội - môi trường - nông thôn mới, bản đồ hiện trạng - quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất,… 

Số liệu sơ cấp: phỏng vấn 131 hộ dân gồm các nhóm đối tượng chỉ nuôi thủy sản, nuôi thủy sản dưới tán rừng, nuôi thủy sản kết hợp với nghề nghiệp khác, không nuôi thủy sản.

Kết quả áp dụng công cụ đánh giá DPSIR

Động lực 

Thúc đẩy năng lực sản xuất: Thúc đẩy năng lực sản xuất là động lực để phát triển sinh kế của người dân. Năng lực sản xuất được đánh giá dựa theo trình độ người sản xuất, chất lượng con giống, vật tư phục vụ nuôi trồng và các dịch vụ thú y thủy sản. Tại khu vực nghiên cứu, các cơ sở nuôi con giống (tôm, cua) nhỏ lẻ, chưa đầu tư sản xuất con giống quy mô lớn. Chỉ có 4% nông hộ sản xuất con giống, kỹ thuật viên thuê theo định kỳ, chủ các cơ sở quản lý dựa vào kinh nghiệm. Người dân phải mua con giống từ các địa bàn lân cận, chất lượng con giống chưa được quản lý ảnh hưởng đến năng suất.

Giá cả vật tư thủy sản và chất xử lý môi trường gia tăng trong thời gian qua làm giá thành sản xuất tăng. Trong khi đó giá bán sản phẩm không ổn định nên lợi nhuận người nuôi không cao. Phần lớn các nông hộ chọn sản xuất theo mô hình nuôi thả tự nhiên vì chi phí đầu tư thấp. Số hộ nuôi tôm công nghiệp chỉ chiếm 0,1% trong tổng số các hộ khảo sát do phải có trình độ kỹ thuật cao, phải đầu tư trang thiết bị, chi phí thức ăn lớn.

Về trình độ, chỉ có 4,3% người dân có trình độ đại học, 27% tốt nghiệp trung học phổ thông, tốt nghiệp trung học cơ sở chiếm 63,48%. Trình độ học vấn liên quan đến việc quan tâm các chính sách quản lý và các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất. Cụ thể, trong nhóm đối tượng tốt nghiệp trung học và đại học có 87% quan tâm đến việc giảm lao động trẻ tại địa phương và quan tâm đến các chương trình tập huấn về các mô hình sinh kế, hướng dẫn kỹ thuật canh tác, đến việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trong sản xuất.

Sự phát triển của hệ thống thủy lợi: Khu vực nghiên cứu có 15 cống hở đang vận hành, 07 cống hở đang trong quá trình xây dựng (Chi cục Thủy lợi tỉnh Kiên Giang, 2021). Khi các cống được hoàn thiện đưa vào vận hành sẽ bảo vệ vùng nước ngọt bên trong nội đồng. Các nông hộ đều đánh giá các công trình thủy lợi có tác động đến quá trình canh tác, 89,3% hộ cho biết mức độ ảnh hưởng là tốt, 14% hộ đánh giá có ảnh hưởng nhưng không đáng kể. Nhìn chung, việc phát triển các cống hiện nay là động lực ảnh hưởng tích cực đến quá trình sản xuất. 

Tuy nhiên các cống - đập có khả năng gây ô nhiễm nguồn nước nội đồng. Vận hành cống không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến lấy nước NTTS, nảy sinh mâu thuẫn giữa các cộng đồng trong và ngoài cống.

Điều kiện tự nhiên thay đổi: Các thay đổi về khí hậu, hiện tượng thời tiết bất thường là động lực tác động đến sinh kế. Người dân nhận thấy ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết bất thường như mưa trái mùa (81,1%), nhiệt độ tăng và xâm nhập mặn diễn biến ngày càng phức tạp (70,8%), bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện với tần suất nhiều hơn.

Khi hỏi về mức độ tác động, sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày được chọn có tác động nhiều nhất nhưng không gây ảnh hưởng; hoạt động sản xuất được chọn có tác động và gia đình phải đầu tư các giải pháp thích ứng. 

Áp lực    

Áp lực từ việc thúc đẩy năng lực sản xuất: Sinh kế của người dân đang chịu áp lực từ các mô hình sản xuất nhỏ lẻ. Số hộ có diện tích ao nuôi dưới 5 ha chiếm 92,4%. Số người tham gia sản xuất tại các hộ này từ 1 đến 6 người, trong đó phổ biến là 2 lao động chiếm 79%. 

Trước đây khu vực nghiên cứu có các loại hình sinh kế là lúa - cá, lúa, cá nước ngọt, vườn. Hiện tại có 44% hộ chuyển đổi từ trồng lúa sang NTTS theo quy hoạch của địa phương, 56% hộ tự chuyển đổi mô hình canh tác khác. Như vậy quy hoạch của cơ quan quản lý chưa đáp ứng theo nhu cầu sinh kế của người dân, chưa thể hiện vai trò kết nối giữa người sản xuất với thị trường. 

Tại khu vực nghiên cứu, 100% hộ dân không áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường (do diện tích nuôi < 5 ha theo Nghị định số 40/2019/NĐ-CP) tiềm ẩn gây nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Áp lực từ trình độ khoa học kỹ thuật: Có 51% hộ dân không tham gia các lớp tập huấn và 49% người dân tham gia, trong đó 36,5% đánh giá các lớp tập huấn có nhiều thông tin cần thiết, 42,3% cho rằng các lớp này không có nhiều thông tin và 21% đánh giá là không. Như vậy tỷ lệ người dân tiếp cận với các khóa tập huấn chưa cao, và khi có tham gia thì giá trị của các thông tin truyền tải chưa nhiều. 

Có 81,1% hộ dân cho biết địa phương có giới thiệu mô hình canh tác mẫu, 18,9% canh tác dựa vào kinh nghiệm. Trong số những người có biết về mô hình canh tác mẫu chỉ có 56% áp dụng. Khi được hỏi chính quyền địa phương có thông báo và khuyến cáo nên canh tác vào thời gian nào không thì có 59% nông hộ nhận các thông báo này, 30% nông hộ không nhận, số còn lại không quan tâm. Điều này cho thấy công tác truyền thông chưa sâu rộng và phù hợp với các nông hộ.

Áp lực từ sự thay đổi điều kiện tự nhiên: Có 94% nông hộ được phỏng vấn ghi nhận xâm nhập mặn ảnh hưởng đến quá trình canh tác, trong đó 56% đánh giá ảnh hưởng ở mức độ nặng, 40% đánh giá có ảnh hưởng nhưng không nhiều và 6% đánh giá là không ảnh hưởng. Số hộ đánh giá mức ảnh hưởng nặng chủ yếu sản xuất tôm - lúa (68%), 100% hộ nuôi cua chọn mức đánh giá là không ảnh hưởng.

100% người dân có theo dõi dự báo thời tiết, 63,3% nhận được thông tin về hạn mặn từ cơ quan quản lý địa phương, 33,5% không nhận thông tin và 3,2% không quan tâm. Do đó việc điều chỉnh thời điểm canh tác của các nông hộ còn bị động. Việc quan tâm các vấn đề về điệu kiện sản xuất có mối liên hệ đối với loại hình sản xuất của các nông hộ. 

Hiện trạng

100% hộ dân có thu nhập chính từ NTTS, trong đó, số hộ chỉ NTTS chiếm 64%, 32% hộ NTTS kết hợp trồng lúa. Số hộ dân NTTS kết hợp trồng lúa tập trung nhiều ở xã Thuận Hòa do khu vực này biên độ mặn chưa vào sâu. Lúa trồng có năng suất không cao, chủ yếu chỉ phục vụ cho gia đình và có phần gốc rạ để nuôi tôm.

Các hộ dân cho biết, khoảng thời gian từ 2007 - 2010 có áp dụng phương pháp nuôi tôm công nghiệp, tuy nhiên không đạt hiệu quả cao do vốn đầu tư lớn. Về sau, người dân chủ yếu nuôi thả tôm tự nhiên do chi phí đầu tư thấp và được đánh giá là ít rủi ro so với nuôi công nghiệp.

Các sản phẩm từ sinh kế chưa kết nối thị trường, chưa tạo thương hiệu riêng: Các mô hình NTTS theo hướng hữu cơ, an toàn vệ sinh thực phẩm chưa phát triển do chi phí đầu tư - chứng nhận cao nhưng giá bán sản phẩm không khác biệt với sản phẩm thông thường. 

Trong khu vực không có hộ dân tham gia hợp tác xã. Gần đó có hợp tác xã Thạnh An tại xã Đông Thạnh sản xuất lúa hữu cơ tôm - lúa có thể là mô hình tốt để học hỏi.

Người dân có thu nhập thấp: Do hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, NTTS có khả năng trúng mùa cao vào thời điểm nước mặn và thất khi mưa nhiều. Mức thu nhập trung bình năm của người dân từ mức 49.500.000 đồng năm 2019 tăng lên 54.100.000 đồng năm 2022, tuy nhiên vẫn thấp hơn mức thu nhập trung bình của tỉnh Kiên Giang.

Người dân sử dụng đất không đúng mục đích: Việc người dân chuyển đổi mô hình canh tác theo hướng tự phát tạo nên thực trạng sử dụng đất không đúng mục đích, gây tác động đến tài nguyên đất và nhu cầu sử dụng nước.

Môi trường sản xuất không ổn định: Với sự gia tăng các hiện tượng thời tiết bất thường, tăng nhiệt độ, xâm nhập mặn, cơ sở hạ tầng cảnh báo chất lượng nước chưa đảm bảo thì các nông hộ đang sản xuất trong điều kiện không ổn định và rủi ro cao.

Người dân di cư đến nơi khác để sinh sống: Có 21,3% hộ có người đi lao động ở địa phương khác, trung bình cứ 5 hộ sẽ có 1 hộ có người di cư. Những người di cư có độ tuổi từ 16 đến 45 trong độ tuổi lao động. Lý do để người dân di cư chủ yếu là cải thiện sinh kế, các lý do về môi trường, điều kiện tự nhiên không được đề cập đến. 82% hộ có người đi lao động tại địa phương khác thuộc nhóm gia đình có từ 4 thành viên trở lên. 85% hộ cho rằng việc đi địa phương khác không ảnh hưởng đến nguồn lao động tại gia đình. 15% còn lại cho rằng có ảnh hưởng nhưng không lớn. Lao động di cư là sự lãng phí nguồn lực xã hội.

Tác động

Hiệu quả sản xuất không cao: Các sản phẩm tạo ra được bán trực tiếp cho thương lái, có 11,5% người dân liên hệ với các quán ăn trên địa bàn. Tuy nhiên, mối liên kết giữa các hộ dân còn lỏng lẻo, tình trạng bị thương lái ép giá vẫn còn diễn ra. 

Sản phẩm sản xuất dựa trên kinh nghiệm mà chưa theo quy chuẩn kỹ thuật nên chất lượng không ổn định, giá trị chưa cao. 

 Ô nhiễm đất và nguồn nước: Việc người dân sử dụng đất không đúng mục đích do chuyển đổi mô hình canh tác gây ảnh hưởng đến chất lượng đất - nước. Việc chuyển đổi sang NTTS ồ ạt có thể làm cho biên mặn lấn sâu vào trong nội đồng. Về lâu dài, việc đào ao, bơm nước mặn phục vụ canh tác NTTS có thể gây ảnh hưởng đến tầng nước ngầm trong khu vực. 

 Mất ổn định xã hội, tăng phân hóa giàu nghèo và thiếu nguồn lực lao động: Việc canh tác dựa vào tự nhiên và kinh nghiệm dẫn đến các nông hộ có thu nhập không ổn định. Khi gặp các rủi ro trong sản xuất sẽ không đủ chi phí đầu tư cho vụ mùa mới dẫn đến người dân bỏ quê hương đi tham gia sản xuất ở các địa phương khác.

Thu nhập thấp làm giảm chất lượng cuộc sống và môi trường sống của các nông hộ. Việc đảm bảo cho trẻ đến trường, tham gia chăm sóc y tế bị hạn chế. Xét về góc độ kinh tế, thu nhập thấp sẽ làm tăng mức phân hóa giàu nghèo, gián tiếp gây bất bình đẳng trong xã hội.

Kết luận 

Trong khu vực nghiên cứu, sinh kế chủ yếu của người dân là NTTS. Tuy nhiên, trên thực tế, sinh kế người dân không phát triển một cách độc lập mà nó gắn liền với các yếu tố con người, môi trường và xã hội. Trên cơ sở các động lực (D) được nhận dạng thông qua các hoạt động của con người và sự thay đổi môi trường, khí hậu, tạo áp lực (P) về thu nhập, chính sách, môi trường sống, từ đó hình thành hiện trạng (S) về sinh kế hiện nay. Hiện trạng sinh kế (S) tạo nên những tác động ngược lại cho môi trường và xã hội (I). Trên cơ sở đó, cần có những giải pháp để đáp ứng (R) cũng như những hoạt động đảm bảo sự phát triển bền vững như sau: Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao năng lực sản xuất của người lao động; phát triển ngành nghề thu hút lao động tại nông thôn, tăng số lao động được đào tạo; xây dựng mô hình sản xuất quy mô lớn, ban hành chính sách kết nối thị trường; khuyến khích các hoạt động sản xuất dựa trên kinh nghiệm bản địa; công khai thông tin điều tiết công trình thủy lợi. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường.

Tài liệu tham khảo

Chi cục Thủy lợi Kiên Giang (2021). Báo cáo hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi năm 2020. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang;

Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang (2011). Nghiên cứu tác động của BĐKH đến Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp thích ứng (phần A) - Tập bản đồ Kiên Giang;

Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang (2020). Báo cáo cập nhật kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050.

PHẠM MINH NGỌC1, NGUYỄN VÕ CHÂU NGÂN2

1Chi cục Bảo vệ môi trường Kiên Giang

2Khoa Môi trường và tài nguyên thiên nhiên - Trường Đại học Cần Thơ

Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 5 (Kỳ 1 tháng 3) năm 2023

Tin tức

Hướng về Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ

Dự kiến Ban hành Quy chuẩn Việt Nam về khí thải ô tô đang lưu hành và lộ trình áp dụng trong Quý I/2024

Người dân phải được hưởng những thành tựu mới nhất của ngành dược

Thống nhất đầu mối quản lý trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản

Tài nguyên

Luật Đất đai (sửa đổi): Bệ đỡ cho thị trường bất động sản bứt phá

Kiên quyết xử lý hành vi vi phạm về khai thác khoáng sản và môi trường 

Bộ Tài nguyên lấy ý kiến dự thảo Nghị định tính giá đất theo 4 phương pháp

Nguồn cung bất động sản Hà Nội sẽ được cải thiện trong năm 2024

Môi trường

Quảng Ngãi phạt 330 triệu đồng doanh nghiệp xả nước thải có chứa xyanua vượt ngưỡng ra môi trường

Nhiều tuyến suối tại TP Thủ Đức ô nhiễm nặng

Một doanh nghiệp xả thải có thông số Xyanua vượt quy chuẩn hơn 20 lần

Giải cứu những dòng sông ô nhiễm

Video

Kỷ niệm 20 năm Tạp chí Tài nguyên và Môi trường và ra mắt kỷ ra mắt chuyên trang tiếng Anh

Tình yêu Môi trường

Thế giới lo sợ vì biến đổi khí hậu đã “Ngoài tầm kiểm soát” và kêu gọi hành động toàn cầu

Dự án Luật địa chất và khoáng sản sửa đổi khắc phục hạn chế để phát huy nguồn lực khoáng sản

Khoa học

Giải mã tên một dòng sông

Đoàn kết vì hệ thống lương thực bền vững

Hành trình "gọi tên tổn thương" bằng AI của Phó Giáo sư trẻ

Màng chuyển đổi CO2 thành chất hữu dụng

Chính sách

Áp quy định mới, doanh nghiệp bất động sản hết cửa 'tay không bắt giặc'

Quy định mới về thu phí khai thác sử dụng tài liệu địa chất, khoáng sản

Thực hiện chính sách 'giải nén', giảm tải cho các đô thị lớn

Loạt dự án biệt thự du lịch, sân golf ở Ninh Bình vi phạm về đất đai, xây dựng

Phát triển

Bến Tre: Tăng trưởng kinh tế, chú trọng bảo vệ môi trường

Tinh thần “đi trước mở đường”

Đầu năm, loạt địa phương tìm nhà đầu tư cho nhiều dự án lớn

Đà Nẵng xây dựng Công viên Rồng tại quận Sơn Trà

Diễn dàn

Đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông trọng điểm: Tạo nền tảng cho sự tăng trưởng

Nhiều khu vực tại huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) bị sụt lún

Thời tiết ngày 20/2: Miền Bắc vẫn sương mù, trưa có nơi nắng nóng

Thời tiết ngày 19/2: Miền Bắc gia tăng nắng trước khi đón không khí lạnh