Tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Thách thức và giải pháp

02/07/2024

TN&MTĐồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) nằm ở hạ lưu lưu vực sông Mê Công, có vai trò quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Tuy nhiên, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với những nguyên nhân khách quan và chủ quan, đã và đang ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về tài nguyên nước.Vì vậy, giải quyết vấn về tài nguyên nước, bảo đảm khai thác, sử dụng là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh nêu trên.

Tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Thách thức và giải pháp

Những thách thức đối với nguồn nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài: Nguồn nước ĐBSCL phụ thuộc mạnh mẽ vào nguồn nước đến từ thượng nguồn sông Mê Công (chiếm 94% tổng lượng nước của ĐBSCL). Vì vậy, các hoạt động đắp đập, chặn dòng, chuyển nước, mở rộng diện tích tưới, xây dựng và vận hành của các công trình thủy điện ở thượng nguồn LVS Mê Công đã và đang là nguy cơ trực tiếp làm suy giảm nguồn nước chảy vào Việt Nam.

Phía thượng lưu Mê Công, Trung Quốc đã lập kế hoạch xây dựng 20 công trình thủy điện trên sông Lan Thương với tổng công suất phát điện khoảng 29.209 MW và tổng dung tích hữu ích các hồ chứa là 24,99 tỷ m3. Đến nay, đã có 12 công trình đi vào vận hành với khả năng kiểm soát dòng chảy rất lớn. Chỉ riêng 02 hồ lớn là Tiểu Loan và Nộ Trác Độ đã có dung tích khoảng 38 tỷ m3, trong đó, dung tích điều tiết là khoảng 22 tỷ m3. 

Phần trung lưu trên lãnh thổ Lào, Thái Lan và Campuchia có 11 dự án thủy điện trên dòng chính đã và đang được triển khai như sau: 02 công trình đang vận hành (Xay-nha-bu-ly và Đôn-Sa-hông với tổng dung tích điều tiết khoảng 800 triệu m3), 01 công trình đang xây dựng (Luang Phra-bang với dung tích điều tiết khoảng 734 triệu m3) và 08 công trình đang dự kiến xây dựng (các thủy điện: Pắc Beng, Pắc Lay, Sa-na-kham, Bản Kủm, Pắc Chom, Phua Ngòi của Lào với tổng dung tích điều tiết khoảng 4647 triệu m3). Bên cạnh đó, thủy điện dòng nhánh cũng đang được phát triển với tốc độ cao trên lưu vực. Đến nay, các quốc gia hạ LVS Mê Công đã đưa vào vận hành 115 công trình thủy điện với tổng dung tích điều tiết khoảng 63 tỷ m3, lớn hơn tổng dung tích điều tiết của toàn bộ bậc thang thủy điện trên dòng chính sông Mê Công. 

Ngoài ra, Thái Lan cũng đang triển khai một số dự án chuyển nước trong lưu vực và ra ngoài lưu vực với quy mô lớn, cụ thể: Chuyển nước từ LVS Mê Công sang LVS Chao Phraya khoảng 6,2 tỷ m3/năm và chuyển nước từ dòng chính sông Mê Công vào tích trữ trong các hồ chứa vùng Đông Bắc với lưu lượng khoảng 15 tỷ m3/năm; chuyển nước từ các dòng nhánh phía Lào sang vùng Đông Bắc Thái Lan khoảng 2,5 tỷ m3/năm.

Đối với LVS Mê Công, hiện nay, chỉ có 4 nước trên lưu vực là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam tham gia Hiệp định Mê Công năm 1995, là thành viên của Ủy hội sông Mê Công quốc tế, còn 2 nước Trung Quốc và Myanmar mới chỉ là đối tác đối thoại, chưa phải là thành viên của Ủy hội. Trong khi đó, thời gian gần đây, các quốc gia ở thượng nguồn có chung nguồn nước với Việt Nam đều tăng cường khai thác lợi ích từ nguồn nước liên quốc gia cho phát triển kinh tế - xã hội và các xung đột lợi ích giữa các quốc gia thượng nguồn với hạ nguồn trong việc khai thác, sử dụng nguồn nước liên quốc gia ngày càng rõ nét.

Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động mạnh mẽ của BĐKH: Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là một trong ba đồng bằng châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi BĐKH. Dưới tác động của BĐKH, sự ấm lên toàn cầu đã làm thay đổi một số hoàn lưu quy mô lớn cũng như quy luật của ENSO, MJO, gió mùa,… gây ra nhiều cực đoan khí hậu và thời tiết bất thường hơn, trong đó, hạn hán và siêu hạn hán ngày càng gia tăng, cụ thể như mùa khô 2015-2016, 2019-2020.

Theo phân tích, đánh giá của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam do tác động của BĐKH nên trong giai đoạn 2010 - 2023, tổng lượng mưa các năm suy giảm từ 5÷10%, đồng thời, các quốc gia thượng nguồn cũng gia tăng sử dụng nước nên dòng chảy về đồng bằng có xu hướng suy giảm.

Dưới tác động của BĐKH kết hợp với việc khai thác thượng nguồn dẫn đến mặn xuất hiện trên ĐBSCL trong những năm vừa qua có xu hướng sớm hơn và mạnh hơn so với trước đây. 

Hạn hán, xâm nhập mặn: Theo dự báo của Văn phòng Thường trực Uỷ ban sông Mê Công Việt Nam, lượng nước về ĐBSCL qua 2 trạm Tân Châu (trên sông Tiền) và trạm Châu Đốc (trên sông Hậu) trong tháng 4/2024 có xu thế thấp hơn so với TBNN. Cụ thể:

Lưu lượng trung bình ngày qua hai trạm Tân Châu và Châu Đốc trong tháng 4/2024 sẽ biến động trong khoảng từ 2.900 m3/s đến 4.600 m3/s, ở mức thấp hơn TBNN và cùng kỳ năm 2023 nhưng cao hơn so với năm hạn lịch sử 2020.

Tổng lượng dòng chảy trong tháng 4/2024 qua hai trạm này có thể sẽ ở mức từ 8,8 tỷ m3 đến 10,6 tỷ m3 ở mức thấp hơn TBNN khoảng từ 7 đến 19%, thấp hơn cùng kỳ năm 2023 khoảng từ 17 đến 27% nhưng cao hơn cùng kỳ năm hạn lịch sử 2020 khoảng từ 15 đến 27%.

Cùng với vấn đề suy giảm dòng chảy, XNM và nguy cơ ô nhiễm xuyên biên giới, nguồn nước trong vùng ĐBSCL còn chịu áp lực bởi các hoạt động phát triển kinh tế nội tại trong vùng như: Nước thải sinh hoạt từ các đô thị, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy hải sản, chăn nuôi, trồng trọt và các hoạt động công nghiệp cũng đang có những tác động đáng kể đến chất lượng các nguồn nước.

Hiện nay, các nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm các nguồn nước mặt trong vùng ĐBSCL đó là các nguồn nước hàng ngày phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, đặc biệt nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý trước khi xả ra nguồn nước mới chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ; việc thâm canh tăng vụ trong trồng trọt cũng đồng nghĩa với việc tăng lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật kéo theo đó là một lượng dư thừa phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường nước cũng tăng lên; hoạt động nuôi trồng thủy sản là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nước cục bộ trên các sông vùng ĐBSCL, chất thải phát sinh trong quá trình nuôi, quá trình vệ sinh, nạo vét ao nuôi và dịch bệnh thủy sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng các nguồn nước mặt.

Mực nước dưới đất đang bị hạ thấp: Trong những năm qua, việc khai thác NDĐ quá mức để đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH đã gây áp lực lên tài nguyên NDĐ vùng ĐBSCL. Hầu như mực NDĐ các tầng chứa nước trong vùng đều bị hạ thấp liên tục do lượng khai thác tăng liên tục. Theo số liệu quan trắc của Bộ TN&MT trong giai đoạn từ 2003- 2024 cho thấy: Mực nước trung bình hiện tại của các tầng chứa nước trong vùng khoảng 13,54 ÷7,25 m (trong đó tầng qp3: 7,25 m; qp23: 7,70 m; qp1: 11,20 m; n22: 12,38 m; n21: 13,54 m); mực NDĐ trong các tầng chứa nước đang có xu hướng hạ thấp, theo số liệu quan trắc có 147/174 công trình quan trắc mực nước bị suy giảm, tốc độ suy giảm mực nước tại các giếng quan trắc khoảng 0,2 m/năm. 

Áp lực về gia tăng dân số và phát triển KT-XH: Dự báo dân số trong vùng có thể tăng từ 17 triệu hiện nay lên đến khoảng 30 triệu năm 2050, công nghiệp hóa và đô thị hóa sẽ ngày càng phát triển và sẽ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, nh cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng. Theo Quy hoạch TNN quốc gia nhu cầu nước đến năm 2030 là khoảng 58,1 tỷ m3 và đến năm 2050 là khoảng gần 58,8 tỷ m3. Đồng thời, làm tăng nhu cầu về nước sạch cũng như phát sinh nhiều nước thải hơn. Đây sẽ là áp lực lớn đối với nguồn nước của ĐBSCL, đặc biệt là giải quyết vấn đề nước ngọt, ô nhiễm nguồn nước nhất là ở các kênh, rạch nhỏ, chảy qua các khu đô thị, khu công nghiệp. 

Giải pháp cho nguồn nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trước hiện trạng và các thách thức đối với TNN vùng ĐBSCL đã nêu trên, một số giải pháp ứng phó với XNM, cũng như sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn nước nhằm cụ thể hóa chủ trương phát triển thuận thiên tiếp tục được quán triệt trong các quyết sách phát triển bền vững ĐBSCL phải lấy TNN làm yếu tố cốt lõi, là cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển vùng, cần phải được quản lý tổng hợp trên toàn lưu vực. 

Về trước mắt: Trong thời gian qua, Bộ TN&MT đã chỉ đạo sát sao công tác dự báo, cảnh báo ngắn hạn, dài hạn về thủy văn, nguồn nước, nguy cơ hạn hán, thiếu nước, XNM; cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin dự báo, cảnh báo cho các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí nên các địa phương đã có giải pháp ứng phó kịp thời nên thiệt hại do hạn hán, XNM giảm đi đáng kể. Tiếp tục theo dõi chặt chẽ, cập nhật liên tục các bản tin cảnh báo, dự báo diễn biến tình hình khí tượng, thủy văn, hạn hán, thiếu nước XNM của Bộ TN&MT để chủ động trong triển khai các kế hoạch sản xuất, thực hiện các biện pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, XNM trong đó ưu tiên cao nhất đảm nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân.

Vận hành hiệu quả các hệ thống, công trình thủy lợi để lấy nước, chủ động trữ nước bảo đảm đáp ứng nhu cầu tối thiểu nước tưới cho cây trồng hạn chế thiệt hại. Tuyên truyền vận động nhân dân sử dụng tiết kiệm nước; giữ vệ sinh nguồn nước; có hình thức linh hoạt tích trữ nước ngọt, tránh lãng phí nguồn nước ngọt; rà soát lại diện tích cây trồng và khuyến cáo thực hiện cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng nhằm hạn chế thiệt hại do hạn mặn gây ra; giải phóng các chướng ngại vật lòng kênh, khai thông dòng chảy trên các kênh trục, kênh cấp nhánh; triển khai các phương án ngăn mặn, giữ ngọt, tiết kiệm nước tưới.

Về lâu dài: Đầu tư phát triển các ngành phải tuân thủ các quy hoạch liên quan đến vùng ĐBSCL đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (quy hoạch vùng ĐBSCL, Quy hoạch TNN quốc gia, quy hoạch tổng hợp LVS Cửu Long), trong đó, đặc biệt lưu ý định hướng phát triển các ngành phù hợp với các vùng sinh thái (nước mặn, nước lợ, nước ngọt) đã chỉ ra trong các quy hoạch và Nghị quyết số 120 của Chính phủ.

Triển khai thực hiện các chính sách theo quy Luật TNN năm 2023, có hiệu lực từ 01/7/2024, xây dựng và công bố kịch bản nguồn nước sông Cửu Long, căn cứ kịch bản nguồn nước, các Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng và các địa phương xây dựng kế hoạch sử dụng nước phù hợp với kịch bản nguồn nước nhằm chủ động nguồn nước cho sản xuất, và nhất là nước cho sinh hoạt của nhân dân trong vùng. 

Xây dựng hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định phục vụ việc điều hòa, phân phối nguồn nước để chủ động ứng phó với hạn hán, XNM, cũng như việc khai thác, sử dụng nước của các quốc gia phía thượng nguồn sông Mê Công, nhằm tối ưu hóa lợi ích về KT-XHi, môi trường do nguồn nước mang lại. Nghiên cứu, triển khai các phương án, các giải pháp tích trữ nước ngọt với quy mô phù hợp với ĐBSCL, để tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt, điều tiết nguồn nước. Nghiên cứu, đầu tư xây dựng các trạm cấp nước tập trung theo hướng thích ứng với nguồn nước (có thể xử lý nước mặn khi nguồn nước bị XNM) có quy mô phù hợp với từng địa phương và có giá thành phù hợp cho người dân ở các vùng chịu ảnh hưởng thường xuyên XNM.

Trong nhiều năm qua, tuy đã được đầu tư quan tâm phát triển, nhưng các giải pháp công trình (hệ thống công trình thủy lợi, kiểm soát mặn, các công trình trữ nước,…) trong vùng ĐBSCL còn chưa được đầu tư đồng bộ, toàn diện, chưa phát huy được hiệu quả và nhiều công trình đang xuống cấp. Vì vậy, trong thời gian tới, cần đầu tư, hiện đại hóa các công trình hạ tầng mang tính tổng thể, đồng bộ, liên vùng để giảm thiểu XNM vào vùng đồng bằng.

Hiện đại hóa hệ thống quan trắc khí tượng, thủy văn, TNN vùng ĐBSCL. Đồng thời, tăng cường năng lực dự báo KTTV, hạn hán, XNM, nhất là dự báo ngắn hạn 10 ngày, theo tháng, theo mùa.

Tiếp tục đàm phán, hợp tác với các quốc gia thượng nguồn có hồ chứa thủy điện lớn, kể cả ở dòng chính và dòng nhánh, để vận hành phát điện, xả nước xuống hạ du, bảo đảm duy trì chế độ dòng chảy trên sông ở mức phù hợp. Tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin, dữ liệu toàn vùng; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp dùng chung cho cả vùng ĐBSCL về khí tượng, thủy văn, TNN, đất đai và cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa trung ương, địa phương và các ngành.

Tăng cường vai trò của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam trong quản lý tổng hợp LVS Cửu Long, đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức, các nhà khoa học và cộng đồng tham gia trong quá trình ra quyết định và theo dõi, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng nước tại ĐBSCL.

Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức; vận động hướng dẫn người dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, phòng chống ô nhiễm nguồn nước; thay đổi tập quán canh tác, thích ứng với điều kiện nguồn nước từng vùng; áp dụng các mô hình áp dụng công nghệ tăng trưởng xanh, sử dụng tái tuần hoàn TNN.

ThS. NGUYỄN HỒNG HIẾU
Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 9 năm 2024

Tin tức

Triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong nghiên cứu chính sách ngành TN&MT

Thủ tướng: '5 quyết tâm', '5 bảo đảm' để thúc đẩy giải ngân, sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn gần 670 nghìn tỷ đồng

Rà soát, hoàn thiện dự thảo nghị định về kinh doanh bất động sản; xây dựng lại chung cư

Xây dựng thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh, mở không gian mới cho năng lượng tái tạo

Tài nguyên

Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Luật Đất đai năm 2024

Cống ngăn mặn lớn nhất Bắc miền trung sắp đưa vào vận hành

Tránh thất thu từ khoáng sản phát sinh

Bắc Giang: Ban hành Chỉ thị số 7/CT-UBND về triển khai Luật Đất đai năm 2024

Môi trường

Ninh Thuận chủ động ngăn chặn tình trạng đào gốc cây bằng lăng rừng

Xây dựng mô hình chuyển đổi xanh, sử dụng đất bền vững tại các khu vực trồng hoa

Rùa biển quay lại xã đảo Cù Lao Xanh đẻ trứng sau nhiều năm vắng bóng

Ứng phó với áp thấp nhiệt đới và mưa lớn

Video

Diễn đàn môi trường lần thứ III - Năm 2024

Chuyển đổi xanh - động lực tăng trưởng mới để phát triển kinh tế

Xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Thực trạng và giải pháp

Tạp chí Tài nguyên và Môi trường 20 năm xây dựng và phát triển

Khoa học

Kiểm kê nguồn thải phục vụ xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí tỉnh Trà Vinh

Việt Nam công bố trên 19.000 bài báo quốc tế/năm nhưng chỉ có 2 tạp chí Scopus

Điều chỉnh công nghệ khai thác cát sông tại Sóc Trăng

Khảo sát ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến một số tính chất đất, nước trên sông rạch và ương vườn tại huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang

Chính sách

Luật Đất đai quy định về cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất như thế nào?

Bình Dương: Sẽ xử phạt việc khai thác sử dụng thông tin KTTV không đúng quy định

Luật Đất đai quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như thế nào?

Tín dụng cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Mức cho vay tối đa 25 triệu đồng

Phát triển

Hội thảo: “An ninh - an toàn thực phẩm hướng đến du lịch xanh bền vững, chuyển hướng từ nhận thức đến hành động”

“Future Blue Innovation 2024” - Hành trình Xanh phụ thuộc vào thế hệ trẻ

Trường Đại học TN&MT TP. Hồ Chí Minh: Đa dạng ngành nghề để đào tạo những công dân tương lai có trách nhiệm với môi trường

Ninh Bình: Đến năm 2030 chấm dứt sử dụng hóa chất độc hại trong nuôi trồng thủy sản

Diễn đàn

Hòa Bình: Ban hành quyết định chuyển mục đích sử dụng 32,2 ha nằm tại xã Nhuận Trạch

"Rộng cửa" cho tín dụng xanh

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá yêu cầu các địa phương chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới và mưa lớn

Phát triển chuỗi cung ứng xanh: Cần điểm tựa chính sách