Nghiên cứu

Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên ngành tài nguyên và môi trường

Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên ngành tài nguyên và môi trường

Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm là cách tiếp cận phù hợp để nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung và công chức ngành tài nguyên môi trường nói riêng. Đây là một trong bốn hình thức bồi dưỡng được quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Bài báo tập trung vào nội dung điều tra, khảo sát nhu cầu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên ngành (lĩnh vực đất đai; môi trường; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ). Kết quả của nghiên cứu là một trong những luận cứ cần thiết để xây dựng chương trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm cho công chức Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 trên địa bàn quận 9 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh

Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 trên địa bàn quận 9 (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất (SDĐ) đến năm 2020 trên địa bàn quận 9 (cũ), TP. Hồ Chí Minh để tìm ra những mặt được và những hạn chế trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện phương án. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao tính khả thi, khắc phục những nội dung bất hợp lý, làm căn cứ phục vụ cho phương án quy hoạch sử dụng đất trong những năm tới được hiệu quả hơn. Kết quả thực hiện các công trình, dự án trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020: 58 công trình đã thực hiện, chiếm 17,52% tổng số công trình; 84 công trình đang thực hiện, chiếm 25,38% tổng số công trình; 189 công trình chưa thực hiện, chiếm 57,10% tổng số công trình.

Thực trạng và những tiềm năng phát triển du lịch huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Thực trạng và những tiềm năng phát triển du lịch huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Huyện Ba Vì (Hà Nội) là một trong những địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch nhờ có điều kiện về tự nhiên và văn hóa xã hội thuận lợi. Trong những năm qua, du lịch Ba Vì đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ, thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế, mang lại những hiệu quả kinh tế rất to lớn. Trong quá trình phát triển, cách tổ chức du lịch của huyện cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Do vậy, muốn du lịch Ba Vì phát triển theo hướng bền vững cần phải có những giải pháp đồng bộ trên cơ sở phát huy lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lịch sử văn hoá sẵn có của huyện.

Hội thảo tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2021 và định hướng đến năm 2030 trong lĩnh vực môi trường

Hội thảo tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2021 và định hướng đến năm 2030 trong lĩnh vực môi trường

Ngày 16/5/2022 tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo có nội dung trên. Vụ KH&CN, Tổng cục Môi trường, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT đồng phối hợp tổ chức. Thứ trưởng Võ Tuấn nhân đến dự và chỉ đạo Hội nghị. Tham dự lãnh đạo các đơn vị, các chuyên gia nghiên cứu, các nhà khoa học trong lĩnh vực môi trường,..

Ứng dụng các phương pháp học tập kết hợp trong dự báo độ mặn của nước

Ứng dụng các phương pháp học tập kết hợp trong dự báo độ mặn của nước

Độ mặn là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nhiều khía cạnh hóa học của nước tự nhiên và các quá trình sinh học bên trong nó. Dự báo độ mặn chính xác có thể hỗ trợ việc ra quyết định quản lý tài nguyên nước để giảm thiểu nguy cơ thiếu nguồn cung cấp nước ngọt ở các cửa sông đông dân cư. Các phương pháp thống kê có chi phí thấp và tốn ít thời gian hơn so với các mô hình số và mô hình vật lý để dự đoán các biến đổi độ mặn của cửa sông. Các công trình nghiên cứu gần đây đã đạt được thành công hợp lý trong việc dự đoán độ mặn. Tuy nhiên, mức độ chính xác của các mô hình đã được đề xuất cần được cải thiện. Bài báo này áp dụng và so sánh các phương pháp học tập thể cho bài toán dự đoán độ mặn. Kết quả thực nghiệm cho thấy nhóm thuật toán Bagging Ensemble Learning cho kết quả tốt nhất.

Hiện trạng dễ bị tổn thương, rủi ro do biến đổi khí hậu tại hai tỉnh Trà Vinh và Bạc Liêu

Hiện trạng dễ bị tổn thương, rủi ro do biến đổi khí hậu tại hai tỉnh Trà Vinh và Bạc Liêu

Dự án “Nâng cao khả năng chống chịu, phát triển khu định cư con người và sinh thái gắn kết, bền vững thông qua các can thiệp hạ tầng quy mô nhỏ ở các vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long” (HREMRD) triển khai năm 2021 do Vụ Pháp chế, Bộ TN&MT đề xuất. Trong năm thứ nhất, Dự án nghiên cứu và xây dựng hướng dẫn tài liệu tập huấn về đánh giá rủi ro, dễ bị tổn thương cấp địa phương. Dự án HREMRD đã phối hợp với Trung tâm Ứng phó biến đổi khí hậu, Cục Biến đổi khí hậu áp dụng kết quả nghiên cứu từ Hướng dẫn đánh giá vào khảo sát thực địa tại 2 tỉnh Trà Vinh và Bạc Liêu. Bài viết này sẽ làm rõ một số hiện trạng rủi ro, dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu những năm gần đây tại hai tỉnh Trà Vinh và Bạc Liêu.

Phát triển du lịch sinh thái gắn liền với bảo tồn tài nguyên tại khu di tích lịch sử quốc gia Tà Thiết

Phát triển du lịch sinh thái gắn liền với bảo tồn tài nguyên tại khu di tích lịch sử quốc gia Tà Thiết

Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng hoạt động du lịch sinh thái (DLST) tại di tích lịch sử Tà Thiết, tiềm năng của khu di tích Tà Thiết để phát triển du lịch sinh thái cũng như tồn tại và thách thức trong phát triển du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử tại khu di tích Tà Thiết. Thông qua dữ liệu thu thập từ các cuộc điều tra, phỏng vấn, thu thập tài liệu và đánh giá mô hình SWOT cho thấy, khu di tích Tà Thiết có nhiều tiềm năng thuận lợi phát triển du lịch sinh thái, tuy nhiên các loại hình du lịch tại đây chưa đa dạng, còn hạn chế về kinh phí cũng như các ý tưởng trong mở rộng loại hình du lịch. Kết quả đề tài tạo cơ sở đưa ra các giải pháp hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên, cùng các mô hình nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững, gắn với bảo tồn tài nguyên ở khu di tích Tà Thiết.

Tổng quan về ô nhiễm dioxin trong đất và đề xuất các phương pháp xử lý hiệu quả

Tổng quan về ô nhiễm dioxin trong đất và đề xuất các phương pháp xử lý hiệu quả

Sự ô nhiễm đất có chứa dioxin là vô cùng độc hại và nguy hiểm đến tính mạng con người chủ yếu từ các hoạt động công nghiệp và các vết tích do chiến tranh để lại đã dấy lên sự nhức nhối nhiều năm qua trong các công tác quản lý, quy hoạch sử dụng đất và nhân lực lao động cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Ngoài ra, dioxin còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đặc biệt là đối với môi trường đất và đáng lo ngại hơn là ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Nghiên cứu nhằm tổng quan chung về sự ô nhiễm dioxin trong đất tại Việt Nam và một số quốc gia trên Thế giới, đồng thời đề xuất các phương pháp xử lý hiệu quả nhằm góp phần hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về dioxin và các phương pháp tối ưu đã, đang và sẽ được áp dụng trong xử lý dioxin trong môi trường đất.

Thực trạng và biến động đất trồng lúa giai đoạn 2015-2020 và định hướng sử dụng đất trồng lúa đến năm 2030 tỉnh Thái Bình

Thực trạng và biến động đất trồng lúa giai đoạn 2015-2020 và định hướng sử dụng đất trồng lúa đến năm 2030 tỉnh Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh thuần nông nghiệp trồng lúa trọng điểm của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hàng năm, tỉnh gieo cấy khoảng 15.0000 ha lúa với sản lượng khoảng 1 triệu tấn/năm góp phần không nhỏ vào an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, cùng với xu hướng dịch chuyển cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, cũng như việc chuyển đổi đất trồng lúa sang các mục đích sử dụng khác và dưới tác động của biến đổi khí hậu, diện tích đất trồng lúa của tỉnh Thái Bình đang suy giảm nhanh trong những năm gần đây, trung bình suy giảm 470 ha/năm giai đoạn 2015-2020. Việc đánh giá được tốc độ suy giảm đất trồng lúa giúp các cơ quan tỉnh cũng như các nhà khoa học đưa ra được các định hướng và quy hoạch nhằm phát triển ổn định đất trồng lúa có tầm nhìn dài hạn bền vững.

Ứng dụng công nghệ UAV xây dựng mô hình số bề mặt và bình đồ ảnh; thực nghiệm tại phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Ứng dụng công nghệ UAV xây dựng mô hình số bề mặt và bình đồ ảnh; thực nghiệm tại phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Thành lập mô hình số bề mặt và bình đồ ảnh bằng công nghệ máy bay không người lái (UAV) đã được ứng dụng trong một số công trình do một số ưu điểm như độ chính xác cao, linh hoạt thời gian, hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, quy trình thực hiện và việc đánh giá độ chính xác còn chưa thống nhất và đồng bộ. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu: 1/tổng quát quy trình thành lập mô hình số bề mặt và bình đồ ảnh từ ảnh máy bay không người lái, 2/bay đo thử nghiệm và đánh giá độ chính xác mô hình số bề mặt được xây dựng bằng công nghệ UAV. Kết quả xử lý ảnh bay đo thử nghiệm khu vực phường Hùng Thắng, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh cho thấy: Sản phẩm mô hình số bề mặt và bình đồ ảnh hoàn toàn đáp ứng được thành lập bản đồ tỷ lệ 1/500 và nhỏ hơn.

Tổ chức và quản lý mặt bằng công trường xây dựng bằng mô hình 5S nhằm nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường

Tổ chức và quản lý mặt bằng công trường xây dựng bằng mô hình 5S nhằm nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường

Bài báo này đề xuất một hướng tiếp cận trong hoạt động tổ chức và quản lý mặt bằng thi công trên công trường xây dựng bằng mô hình 5S nhằm hướng tới mục tiêu loại bỏ các lãng phí, giảm thiểu các hoạt động không gia tăng giá trị, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp một môi trường làm việc với tinh thần cải tiến liên tục, cải thiện tình trạng an toàn vệ sinh môi trường.

Đặc điểm của vi nhựa trong môi trường nước tại khu vực Cửa Hới, tỉnh Thanh Hóa

Đặc điểm của vi nhựa trong môi trường nước tại khu vực Cửa Hới, tỉnh Thanh Hóa

Nhằm cung cấp thông tin, dữ liệu cho việc thiết lập các biện pháp kiểm soát, giám sát vi nhựa trong tương lai, nghiên cứu xác định đặc điểm của vi nhựa tại khu vực Cửa Hới được thực hiện tại 10 vị trí vào tháng 5 năm 2020. Kết quả cho thấy: Trong số 3656 mảnh vi nhựa trong môi trường nước, vi nhựa có kích thước ≤ 0,5 mm là loại chính, tiếp theo là vi nhựa có kích thước trong khoảng 0,5-1 mm, sau đó lần lượt là vi nhựa có kích thước trong khoảng từ 1-2 mm, 2-3 mm 3-4 mm, cuối cùng là vi nhựa có kích thước 4-5 mm. Màu sắc của vi nhựa được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp: Vàng>trắng>đen>xanh lá>xanh da trời>đỏ. Màu vàng, trắng, đen là các màu chiếm tỷ lệ lớn vi nhựa trong mẫu nước; mảnh vỡ là hình dạng chủ yếu của vi nhựa chiếm 43,4 đến 80,2% tổng số vi nhựa, tiếp sau đó là hình sợi và cuối cùng là vi nhựa hình viên.

Khả năng ứng dụng của dữ liệu Lidar trong phân loại lớp phủ bề mặt khu vực đô thị

Khả năng ứng dụng của dữ liệu Lidar trong phân loại lớp phủ bề mặt khu vực đô thị

Các nhà hoạch định đô thị và cảnh quan đang ngày càng nhận thức được tiềm năng của công nghệ LiDAR trong nghiên cứu lớp phủ bề mặt đô thị. Với tầm bay thấp và số điểm thu nhận được rất lớn, LiDAR đang là công nghệ viễn thám có ứng dụng cao. Thêm vào đó, dữ liệu LiDAR có độ phân giải cao hơn ảnh viễn thám, LiDAR có thông tin về chiều cao và cấu trúc của các khu vực địa lý có diện tích lớn và nhỏ theo cả cách thức kinh tế và hiệu quả về thời gian. Trong môi trường đô thị nơi độ phức tạp của cấu trúc cao, LiDAR được xem là một bộ dữ liệu quan trọng và hữu ích để thu nhận tốt hơn về đặc trưng của cả hai loại đối tượng trên lớp phủ. Bài báo đề cập đến khả năng ứng dụng của dữ liệu LiDAR trong phân loại lớp phủ bề mặt khu vực đô thị.

Phát thải ròng bằng “0” - Mục tiêu không thể trì hoãn

Phát thải ròng bằng “0” - Mục tiêu không thể trì hoãn

Các nhà khoa học đã chứng minh cần phải đưa thế giới về trạng thái phát thải ròng bằng không càng sớm càng tốt, chậm nhất là vào năm 2050, để hạn chế những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu. Tại Hội nghị Thượng đỉnh khí hậu COP 26, Thủ tướng nước ta Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Việt Nam là một nước có lợi thế về năng lượng tái tạo sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp mạnh mẽ bằng nguồn lực của chính mình cùng với sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nhất là các nước đang phát triển kể cả tài chính và chuyển giao công nghệ, trong đó, thực hiện các cơ chế theo Thỏa thuận Pari, để đạt mức bằng “0” vào năm 2050”.

Hiểm họa từ chất lượng không khí

Hiểm họa từ chất lượng không khí

Các nhà khoa học của Liên hợp quốc vừa “gióng lên hồi chuông” cảnh báo 99%  số dân thế giới đang phải hít thở bầu không khí ô nhiễm vượt quá giới hạn được xem là an toàn. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nhận định, nhiên liệu hóa thạch là nguyên nhân gây ra phần lớn lượng khí thải độc hại có liên quan nhiều bệnh cấp tính và mãn tính.

1 2 3 Tiếp Cuối