Nghiên cứu

Đề xuất quy trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị và nông thôn

Đề xuất quy trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị và nông thôn

Hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là một khâu quan trọng trong hệ thống quản lý chất thải. Ở nước ta, mặc dù quy trình thu gom, vận chuyển CTRSH cơ bản đã được triển khai hiệu quả nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặt ra về hiệu quả thu gom, vận chuyển và công tác bảo vệ môi trường. Căn cứ trên thực tiễn và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, bài viết đề xuất quy trình thu gom, vận chuyển CTRSH ở đô thị và nông thôn phù hợp với điều kiện, đặc điểm và lộ trình thực hiện quản lý chất thải ở Việt Nam.

Dự báo mưa tổ hợp và đề xuất phương pháp nâng cao năng lực dự báo mưa lũ

Dự báo mưa tổ hợp và đề xuất phương pháp nâng cao năng lực dự báo mưa lũ

Nghiên cứu do Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia (Tổng cục Khí tượng Thủy văn) nghiên cứu và đề xuất. Đây là một phương pháp nâng cao năng lực dự báo mưa, lũ của một cặp mô hình khí tượng thủy văn bằng cách tạo ra lượng mưa tổ hợp (EPP) kết hợp với lượng mưa dự báo dựa trên ra đa và sai số không gian của lượng mưa dự báo. EPP được tạo ra bằng mô phỏng Monte - Carlo dựa trên độ chính xác của mô hình số trị (NWP) ở khung thời gian trước, sau đó tích hợp với lượng mưa dự báo từ ra đa để tạo ra một hỗn hợp dự báo. Hỗn hợp này tiếp tục được hiệu chỉnh bằng việc giảm thiểu sai số không gian của lượng mưa dự báo, yếu tố có đóng góp đáng kể đến độ chính xác dự báo lũ. Phương pháp này được áp dụng thử nghiệm để nâng cao năng lực dự báo mưa, lũ của cặp mô hình Hệ thống Dự báo và Đồng hóa Dữ liệu địa phương (LDAPS) và mô hình mưa - dòng chảy Đại học Sejong (SURR) cho lưu vực Yeongwol thuộc lưu vực sông Hàn, Hàn Quốc. Kết quả cho thấy, năng lực dự báo mưa lũ của cặp mô hình này đã được n

Các vùng nhiệt đới có nguy cơ phải hứng chịu các đợt nắng nóng nguy hiểm

Các vùng nhiệt đới có nguy cơ phải hứng chịu các đợt nắng nóng nguy hiểm

Những đợt nắng nóng gay gắt xảy ra do biến đổi khí hậu đã xuất hiện trên khắp thế giới, đe dọa sức khỏe con người, động vật hoang dã và năng suất cây trồng. Hầu hết các dự báo về khí hậu đều dự đoán sự gia tăng nhiệt độ theo các kịch bản khác nhau nhưng không cho biết kịch bản nào có khả năng xảy ra nhất.

Ứng dụng thiết bị tự hành thu thập dữ liệu tài nguyên và môi trường

Ứng dụng thiết bị tự hành thu thập dữ liệu tài nguyên và môi trường

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trong ngành đo đạc bản đồ, nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học Ðo đạc và Bản đồ, Bộ Tài Nguyên và Môi trường thiết kế, chế tạo thiết bị bay không người lái và xuồng không người lái nhằm phục vụ công tác thu thập số liệu tại những khu vực khó tiếp cận.

Ứng dụng công nghệ viễn thám trên thế giới và vấn đề cấp bách cho Việt Nam

Ứng dụng công nghệ viễn thám trên thế giới và vấn đề cấp bách cho Việt Nam

Nhu cầu ứng dụng công nghệ viễn thám trong quản lý, giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường, theo dõi giám sát thiên tai, biến đổi khí hậu, giám sát các hoạt động kinh tế, quốc phòng - an ninh,... càng ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng trong nhiều ngành, dưới nhiều hình thức phong phú; đặc thù thông tin từ tư liệu viễn thám rất nhạy cảm và quý giá có liên quan chặt chẽ tới hoạt động kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh nên cần thiết phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ viễn thám.

Tối ưu hóa khai thác tiềm năng chất thải rắn bằng công nghệ

Tối ưu hóa khai thác tiềm năng chất thải rắn bằng công nghệ

Trong những năm gần đây, chất thải rắn gia tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hóa tạo ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam trong quá trình quản lý và xử lý. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, không chỉ có thách thức, Việt Nam cũng sẽ có các cơ hội về khai thác tiềm năng chất thải rắn ở quy mô đô thị và công nghiệp.

Đánh giá lượng carbon tích lũy trong sinh khối cây rừng ngập mặn phục hòi sau bão Durian (2006) tại Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

Đánh giá lượng carbon tích lũy trong sinh khối cây rừng ngập mặn phục hòi sau bão Durian (2006) tại Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Trọng Khiêm 1,4, Lê Quang Luật 1, Phạm Quỳnh Hương 2,3 1Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam 2Trung tâm Nghiên cứu Khí nhà kính và Biến đổi khí hậu, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. 3Khoa Sinh học - Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, TP.HCM, Việt Nam. 4Viện Sinh Học Nhiệt Đới, Học viện Khoa học Công Nghệ, TP.HCM, Việt Nam.

Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của một số mỏ than hầm lò khu vực tỉnh Quảng Ninh

Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của một số mỏ than hầm lò khu vực tỉnh Quảng Ninh

Các mỏ của Công ty TNHH MTV 35 (Quang Hanh), mỏ than của Công ty TNHH MTV 618 (Đông Triều) và mỏ than của Công ty TNHH MTV 790 (Mông Dương) và 02 mỏ thuộc TKV là: Công ty TNNH MTV Than Uông Bí và Công ty Cổ phần Than Hà Lầm (Hạ Long)là các mỏ hầm lò nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Kết quả phân tích các mẫu nước thải chưa qua xử lý được lấy tại cửa lò cho thấy tùy thuộc vào từng thời điểm lấy mẫu: nước thải có giá trị pH thấp, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), sắt tổng (Fe), mangan (Mn) và dầu mỡ khoáng cao, hầu hết đều vượt giới hạn cho phép được quy định trong cột B của QCVN 40:2011/BTNMT đối với chất lượng nước thải công nghiệp. Hàm lượng các kim loại nặng và Coliform trong nước thải vẫn nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép được quy định ở cột B của QCVN 40:2011/BTNMT về chất lượng nước thải công nghiệp trước khi thải vào môi trường.

Nghiên cứu xử lý tiếp tục nước thải hầm lò mỏ than bằng công nghệ lọc màng để cấp nước cho sinh hoạt tại mỏ than Hà Lầm, mỏ than 790 ở Quảng Ninh

Nghiên cứu xử lý tiếp tục nước thải hầm lò mỏ than bằng công nghệ lọc màng để cấp nước cho sinh hoạt tại mỏ than Hà Lầm, mỏ than 790 ở Quảng Ninh

Mục đích nghiên cứu trên mô hình phòng thí nghiệm đối với nước nước thải hầm lò mỏ than (HLMT) -75m Công ty than Hà Lầm và Công ty than Mông Dương là đánh giá khả năng xử lý (tách) Fe và Mn bằng màng với đặc tính kỹ thuật riêng; đồng thời, đánh giá sự tích tụ các chất ô nhiễm lên màng và khả năng loại bỏ các chất này bằng các hóa chất rửa màng. Kết quả nghiên cứu trên mô hình phòng thí nghiệm với loại màng MF sợi rỗng cho thấy, màng lọc MF có thể loại bỏ được sắt, mangan, một số kim loại nặng và vi khuẩn trong nước thải hầm lò mỏ than sau khi xử lý đạt mức A của QCVN 40:2011/BTNMMT để đạt được nước đầu ra đủ tiêu chuẩn một số chỉ tiêu chính cho mục đích cấp nước sinh hoạt cho công nhân mỏ. Chỉ tiêu độ cứng của nước CaCO3 và hàm lượng Clo dư thì màng MF không giải quyết được triệt để. Về mặt an toàn an toàn, cần tính toán áp dụng một loại màng vừa có khả năng loại bỏ độ cứng của nước và làm giảm độ mặn của nước thải hầm lò mỏ than do khai thác sâu để tái sử dụng cấp cho sinh hoạt.

1 2 3 Tiếp Cuối