Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

05/12/2023

TN&MTChế độ thủy văn của hệ thống sông Hồng thay đổi theo hướng hạ thấp mực nước vào mùa kiệt, khiến cho nhiều công trình thủy lợi không thể vận hành. Từ vụ Đông Xuân năm 2005 - 2006, các hồ chứa thủy điện ở thượng du hệ thống sông Hồng bắt đầu thực hiện việc xả nước gia tăng để duy trì mực nước tối thiểu tại trạm thủy văn Hà Nội. Mặc dù giải pháp này đã nâng cao được mực nước trên các triền sông, phục vụ tốt việc gieo cấy, tuy nhiên lại làm thất thoát phần lớn lượng nước xả, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của các nhà máy thủy điện. Từ thực tiễn xây dựng kế hoạch và điều tiết nước các hồ chứa thủy điện trên hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình trong những năm gần đây, bài viết này sẽ xác định cơ sở khoa học để phân tích, tính toán và đề xuất kế hoạch lấy nước phục vụ gieo cấy vụ Đông Xuân 2022 - 2023 vùng Trung du và Đồng bắc Bắc Bộ đảm bảo sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời đề xuất giải pháp chống hạn cho các khu vực khó khăn về nguồn nước.

Đặt vấn đề

Nguồn nước trên LVS Hồng - sông Thái Bình được sử dụng đa mục tiêu cho các ngành khác nhau, trong đó có nông nghiệp và thuỷ điện. Là khu vực sản xuất nông nghiệp lớn thứ hai cả nước, hệ thống thủy lợi khu vực Đồng bằng sông Hồng có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, dưới tác động của tự nhiên và các hoạt động kinh tế, trong khoảng 20 năm trở lại đây mực nước trên các triền sông liên tục duy trì ở mức thấp trong cả mùa kiệt, khiến cho khả năng lấy nước của nhiều công trình là rất hạn chế. Trong khi đó, bên cạnh nhiệm vụ sản xuất điện năng, phục vụ phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, hệ thống các hồ chứa thủy điện hàng năm đều phải thực hiện xả gia tăng để phục vụ gieo cấy vụ Đông Xuân cho vùng Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ. Lượng nước xả có xu hướng ngày càng tăng, từ khoảng 3 tỷ m3 vào những năm trước 2010 lên xấp xỉ 6 tỷ m3 hiện nay. Trước thực trạng đó, để hài hòa lợi ích của các ngành sử dụng nước việc xây dựng kế hoạch điều tiết nước các hồ chứa thủy điện trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả là hết sức cần thiết.

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:

Phương pháp kế thừa: Kế thừa và áp dụng có chọn lọc các công trình nghiên cứu, các dự án liên quan đến công tác lấy nước của các hệ thống thủy lợi thuộc LVS Hồng, sông Thái Bình trong mùa cạn.

Phương pháp thống kê: Tổng hợp số liệu về tình hình xả gia tăng, thông số vận hành của hệ thống các hồ chứa, hệ thống công trình lấy nước,…

Phương pháp mô hình toán: Sử dụng mô hình thủy lực MIKE 11 để mô phỏng chế độ thủy lực trong mùa cạn của hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình nhằm xác định khả năng lấy nước của các hệ thống công trình thủy lợi trong các điều kiện khác nhau.

Các kết quả nghiên cứu chính

Tình hình điều tiết nước các hồ chứa hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình trong vụ Đông Xuân

Đồng bằng sông Hồng hiện có diện tích gieo cấy vụ Đông Xuân khoảng 510.000 ha. Hàng năm, Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT) phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để vận hành, điều tiết hệ thống hồ chứa trên LVS Hồng, sông Thái Bình nhằm phục vụ sản xuất. Từ năm 2009 đến năm 2012 tổng lượng xả gia tăng vào khoảng 3,0 tỷ m3. Tuy nhiên từ năm 2013 đến nay, tổng lượng xả đã tăng lên ở mức bình quân khoảng 5,0 tỷ m3. Cá biệt một số năm có mưa lớn trên diện rộng nên lượng xả thấp như các năm 2016; 2020. Tổng số ngày lấy nước tập trung bình quân khoảng 15-16 ngày.

Hình 1. Thống kê các đợt xả gia tăng từ 2005 đến 2021
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

Mặc dù tổng lượng xả những năm gần đây tăng lên nhưng mực nước tại Hà Nội ngày càng giảm và chưa có dấu hiệu dừng lại, ngoài ra mực nước tại Sơn Tây và Việt Trì cũng có xu hướng giảm. Thời gian duy trì mực nước 2,2 m tại Hà Nội theo đúng quy trình trong các đợt xả hầu như không đạt được và ngày càng giảm, thậm chí là bằng không trong các năm 2020, 2021.

Cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất kế hoạch lấy nước vụ Đông Xuân 2022 - 2023 vùng Đồng bằng sông Hồng

Đặc điểm thủy triều: Thời kỳ tháng 1, tháng 2 năm 2023 có 4 con triều, trong đó có con triều cao nhất trùng với dịp Tết Âm lịch nên không bố trí xả nước. Do vậy, có thể nghiên cứu bố trí 3 đợt xả: Đợt 1 vào con triều ngày 8/1/2023; Đợt 2 vào con triều ngày 4/2/2023; đợt 3 vào con triều ngày 19/2/2023.

Tập quán canh tác và thời vụ gieo cấy theo từng đợt lấy nước:

Đợt 1: Chủ yếu để phục vụ việc thau rửa đồng ruộng và lấy nước cho các tỉnh hạ du và ven biển như: Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương. Các tỉnh khác hầu như chưa lấy nước hoặc lấy nước rất hạn chế. Trong đợt này chỉ cần xả lượng nước vừa đủ.

Đợt 2: Thông thường là đợt lấy gần với thời kỳ lập xuân, phù hợp cho việc gieo cấy nên tất cả các địa phương sẽ lấy nước đồng loạt. Vì vậy, đây là đợt lấy nước chủ lực, duy trì lượng xả tối đa từ các hồ chứa để đảm bảo đủ nước cho các cống, trạm bơm hoạt động. Đợt lấy nước này nên duy trì thời gian lấy nước đủ dài từ 6-8 ngày.

Đợt 3: Các tỉnh ven biển trong giai đoạn này đã gần như hoàn thành việc lấy nước. Diện tích chưa lấy được nước chủ yếu tập trung ở khu vực Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh. Đây là khu vực chịu ảnh hưởng lớn nhất của việc hạ thấp mực nước (diện tích 5.000 - 7000 ha). Các khu vực này thường phải vận hành trạm bơm dã chiến, trạm bơm chìm. Do năng lực lấy nước của các trạm bơm dã chiến thấp nên thời gian lấy nước của đợt này cần được duy trì dài.

Tổng hợp diện tích có nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2021-2022 tại khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ cho thấy, sau đợt 1 (04-06/01/2022) tỷ lệ diện tích có nước so với kế hoạch chỉ đạt 16,37%; sau đợt 2 (15-22/01/2022) tỷ lệ này là 80,5%; kết thúc cả 3 đợt đạt tỷ lệ 99,34%.

Mực nước hồ đầu mùa kiệt: Tại thời điểm cuối tháng 10/2022, mực nước tại các hồ chứa thượng lưu đã đạt xấp xỉ mực nước dâng bình thường, trong đó hồ Thác Bà đầy hồ, Hòa Bình còn thiếu 1,5 m và hồ Sơn La thiếu 1,4 m; chỉ có hồ Tuyên Quang còn thiếu 6,0 m.

Hình 2. Diễn biến mực nước tại một số công trình lấy nước chính
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

Kế hoạch xả nước gia tăng các năm trước: Theo kế hoạch xả nước các năm trước, thường có 3 đợt xả với tổng số 16 ngày. Lưu lượng xả tối đa theo quy trình của các hồ là: Hồ Thác Bà xả 280 m3/s; hồ Tuyên Quang xả 500 m3/s, hồ Hòa Bình phải xả tối đa qua 7 tổ máy x 300 m3/s= 2.100 m3/s (do 1 máy cần bảo dưỡng). Dự kiến lưu lượng xả qua 3 hồ tối đa là 2.880 m3/s và tổng lượng xả là khoảng 4,87 tỷ m3.

Khả năng lấy nước của các công trình trong năm trước: Từ năm 2004 đến nay, mực nước trên các triền sông hạ du bắt đầu giảm mạnh do đó các công trình lấy nước dọc sông bị ảnh hưởng.

Khả năng đẩy mặn của hệ thống: Kết quả tính toán đẩy mặn đối với các cửa sông cho thấy với mực nước tại Hà Nội khoảng 1,8 m thì các công trình lấy nước chính ở các cửa sông có thể đảm bảo độ mặn dưới 1‰. Lưu lượng đẩy mặn tại Sơn Tây là 2.500 m3/s.

Kế hoạch xả nước gia tăng của nhiệm vụ thường xuyên: Thực hiện nhiệm vụ xây dựng phương án điều tiết nước phục vụ gieo cấy vụ Đông Xuân năm 2022 - 2023 được Tổng cục Thủy lợi giao hàng năm, Viện Quy hoạch Thủy lợi đã căn cứ vào 4 kỳ triều cường, tính toán 7 phương án xả như Bảng 1:

Tính toán phân tích cơ sở khoa học để đề xuất có hay không thực hiện xả đợt 3

Việc không xả nước đợt 3 chắc chắn sẽ khiến cho các hệ thống thủy lợi gặp khó khăn trong việc lấy nước. Tuy nhiên, mức độ khó khăn đến đâu và có hiệu quả khi xả thêm đợt 3 hay không, vấn đề này cần được phân tích.

Bảng 1. Phương án xả đề xuất vụ Đông Xuân 2022 - 2023 của nhiệm vụ thường xuyên
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

Sử dụng mô hình thủy lực 1 chiều MIKE 11 mô phỏng chế độ thủy lực mùa kiệt của hệ thống công trình lấy nước vùng Đồng bằng sông Hồng, từ đó phân tích khả năng lấy nước của hệ thống trong trường hợp có xả và không xả đợt 3.

Tác động của việc hạ thấp lòng dẫn đối với khả năng lấy nước của các công trình:

Hình 3. Mực nước tính toán tại TB Trung Hà với địa hình lòng dẫn các năm 2019 và 2021
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

Kết quả tính toán mô hình thủy lực xác định được lượng nước lấy vào các công trình cho thấy, mặc dù với địa hình 2019 trạm bơm Trung Hà 2 không bị thiếu nước nhưng năm 2021 thì mức thiếu đã tăng lên đến 63%. Mực nước lớn nhất tính toán khi xả gia tăng năm 2019 là 8,5m tại Trung Hà nhưng tính toán với địa hình 2021 thì mực nước lớn nhất tại Trung Hà chỉ còn 6,5m.

Tổng lượng nước thiếu ở một số công trình chính tăng từ 327 triệu m3 lên đến 521 triệu m3 trong cùng một điều kiện nguồn nước nhưng địa hình lòng sông khác nhau.

Bảng 2. Kết quả tính toán lượng nước thiếu tại một số công trình lấy nước chính với lượng xả và thủy triều năm 2019 tương ứng địa hình lòng dẫn năm 2019 và năm 2021
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

Để phân tích các tác động của việc xả nước đối với khả năng lấy nước của hạ du trong đợt xả thứ 3, mô hình thủy lực tính toán với 2 phương án: Có và không có đợt xả thứ 3. Kết quả cho thấy, nếu xả thêm 5 ngày (984 triệu m3) thì lượng nước thiếu sẽ giảm đi 16 triệu m3 từ 364 triệu m3 xuống còn 347 triệu m3. 

Bảng 3. Kết quả tính toán lượng nước thiếu tại một số công trình lấy nước chính địa hình lòng dẫn năm 2021 với trường hợp có và không đợt xả thứ 3
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

Lượng nước thiếu giảm đi không đáng kể và so với lượng nước xả chỉ chiếm 3%. Ngoài ra đối với khu vực hiện tại đang có vấn đề khó khăn nhất là trạm bơm Trung Hà thì tình trạng thiếu nước vẫn không được giải quyết.

Như vậy, có thể thấy rằng với tình hình địa hình năm nay thì việc xả nước đợt 3 sẽ không mang lại hiệu quả. Xét tổng thể lợi ích của nền kinh tế, việc lựa chọn phương án không xả đợt 3 là hợp lý và cần nghiên cứu các giải pháp khác như hỗ trợ từ các hồ chứa thủy lợi và bố trí thêm các trạm bơm dã chiến.

Các giải pháp chống hạn cho các khu vực khó khăn khi thực hiện điều tiết theo kế hoạch đề xuất

Trên cơ sở kết quả tính toán lượng nước thiếu cho thấy việc xả đợt 3 sẽ không hiệu quả trong tình trạng lòng dẫn tiếp tục hạ thấp như hiện nay. Do vậy đề nghị lựa chọn phương án xả 2 đợt (không xả đợt 3), cụ thể như sau:

Hình 4. Mực nước tại Sơn Tây và Hà Nội - phương án xả đề xuất 2023
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất kế hoạch điều tiết nước các hồ thủy điện trên lưu vực sông Hồng trong mùa cạn đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

Với đề xuất các phương án xả như trên thì mực nước triền sông tại Hà Nội đợt 1 là 1,7m và đợt 2 là 1,95 m.

Như vậy, ngoài trạm bơm Phù Sa, Ấp Bắc không lấy được nước bằng trạm bơm chính mà phải dùng dã chiến thì đến nay trạm bơm Trung Hà cũng sẽ không lấy được nước ngay cả trong thời kỳ xả nước gia tăng. Do không thực hiện xả gia tăng đợt 3 nên kể cả các trạm bơm vừa được cải tạo như Đan Hoài, Bạch Hạc, Đại Định, Thanh Điềm cũng sẽ lấy nước khó khăn.

Qua thực tế lấy nước vụ Đông Xuân 2021-2022 cho thấy trong đợt xả thứ 3, khu vực lấy nước khó khăn của Hà Nội gồm 3 hệ thống: Trung Hà, Phù Sa, Ấp Bắc (chiếm tới 60% diện tích phục vụ).

Giải pháp chống hạn cho các khu vực lấy nước khó khăn của Hà Nội gồm:

Trạm bơm Trung Hà: Nhận hỗ trợ tưới khoảng 1.000 ha từ hồ Suối Hai; lấy nước từ sông Tích qua trạm bơm Cầu Bã để hỗ trợ tưới cho khoảng 500ha. Lắp đặt trạm bơm dã chiến Trung Hà với quy mô 03 tổ máy bơm chìm loại 6.500 m3/h.

Trạm bơm Phù Sa: Hồ Đồng Mô, có thể hỗ trợ trạm bơm Phù Sa (khu vực cuối kênh). Tiếp tục sử dụng trạm bơm dã chiến Phù Sa như vụ Đông Xuân năm 2021. Tuy nhiên, cần chuẩn bị thêm phương án nối dài ống hút, hạ cao trình lấy nước của trạm bơm dã chiến.

Trạm bơm Ấp Bắc: Sử dụng trạm bơm dã chiến như vụ Đông Xuân năm 2021.

Các trạm bơm Bạch Hạc, Đại Định cũng sẽ gặp khó khăn, cần tập trung lấy nước đủ tưới ải trong đợt 2 và lắp đặt thêm các trạm bơm dã chiến.
Bố trí thêm các trạm bơm dã chiến hỗ trợ cho các trạm bơm vừa được cải tạo như Đan Hoài, Bạch Hạc, Đại Định, Thanh Điềm. Đồng thời, dự phòng kế hoạch nối dài ống hút các trạm bơm dã chiến hiện có.

Kết luận

Để đồng thời đảm bảo được an ninh lương thực và an ninh năng lượng cho vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng và cả nước nói chung, các bộ, ngành có liên quan đã chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch điều tiết nước từ các hồ chứa thủy điện trong mùa cạn.

Từ cơ sở khoa học và thực tiễn gồm: Đặc điểm thủy triều và khả năng đẩy mặn của hệ thống sông; tập quán canh tác và thời vụ gieo cấy; dung tích trữ của các hồ thủy điện trước mùa kiệt; kế hoạch xả nước gia tăng và khả năng lấy nước của các công trình trong năm trước, nhóm nghiên cứu đã sử dụng mô hình thủy lực MIKE 11 để mô phỏng chế độ thủy lực trong mùa cạn của hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình nhằm xác định khả năng lấy nước của các hệ thống công trình thủy lợi.

Kết quả tính toán cho thấy, tác động của việc hạ thấp lòng dẫn trong mùa cạn là rất lớn, với địa hình lòng dẫn năm 2021 tổng lượng nước thiếu ở các công trình là 521 triệu m3, tăng đến 60% so với lượng nước thiếu khi tính toán với địa hình năm 2019. Trước thực tế đó, việc bù đắp lượng nước thiếu hụt bằng giải pháp tăng lượng xả từ các hồ chứa thủy điện hoặc duy trì đợt xả thứ 3 như các năm trước được đánh giá là không hiệu quả. Kết luận này đã được Viện Quy hoạch Thủy lợi đề xuất với Tổng cục Thủy lợi tại Báo cáo số 428/BC-VQHTL ngày 25 tháng 10 năm 2022. Thực tiễn cho thấy, kết quả nghiên cứu phù hợp với thực tế điều hành xả nước phục vụ gieo cấy vụ Đông Xuân năm 2022-2023, với 02 đợt xả (Tổng cộng 12 ngày; Đợt 1: Từ 6 đến 9/1/2023; Đợt 2: Từ 1 đến 8/2/2023; Tổng lượng xả 3,62 tỷ m3).

Khi thực hiện kế hoạch xả nước gia tăng gồm 02 đợt như trên, các giải pháp chống hạn cho các khu vực khó khăn về nguồn nước đã được thực hiện gồm: Tưới hỗ trợ từ các hồ chứa thủy lợi; tiếp tục duy trì, nối dài ống hút các trạm bơm dã chiến hiện có và lắp đặt thêm các trạm bơm chìm, trạm bơm dã chiến mới. Trước bối cảnh mực nước trên hệ thống sông bị hạ thấp, các công trình lấy nước chính chưa được đầu tư nâng cấp thì các giải pháp nêu trên vẫn cần tiếp tục được thực hiện trong thời kỳ lấy nước phục vụ gieo cấy vụ Đông Xuân năm 2023-2024.

Tài liệu tham khảo

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022), Báo cáo số 1143/BC-BNN-TCTL ngày 25 tháng 2 năm 2022 về việc Tổng kết công tác lấy nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2021-2022, khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ;

Viện Quy hoạch Thủy lợi (2022), Báo cáo Tổng kết nhiệm vụ “Điều tra, dự báo dòng chảy hệ thống sông Hồng - Thái Bình phục vụ chỉ đạo điều hành lấy nước gieo lúa vụ Đông Xuân khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ năm 2022;

Lê Viết Sơn (2020), Nghiên cứu đánh giá thực trạng lấy và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả lấy nước trong các đợt điều tiết nước bổ sung từ các hồ chứa thủy điện phục vụ gieo cấy vụ đông xuân khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Tập đoàn EVN;

Nguyễn Thị Bích Thủy (2022), Đề tài Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn nước trên hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình đáp ứng nhu cầu dùng nước hạ du và lợi ích phát điện. Đề tài độc lập cấp Quốc gia ĐTĐL.CN-13/21.

NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY; BÙI HẢI NINH; NGUYỄN XUÂN PHÙNG

Viện Quy hoạch Thủy lợi

NGUYỄN VĂN ĐÀO

Liên đoàn Khảo sát khí tượng thủy văn

Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 5 (Kỳ 1 tháng 3) năm 2023

Tin tức

Báo chí phát huy 4 chức năng, vượt lên khó khăn, thách thức

Hướng về Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ

Dự kiến Ban hành Quy chuẩn Việt Nam về khí thải ô tô đang lưu hành và lộ trình áp dụng trong Quý I/2024

Người dân phải được hưởng những thành tựu mới nhất của ngành dược

Tài nguyên

Phân cấp quản lý tài nguyên khoáng sản: Kinh nghiệm thế giới và bài học tham khảo đối với Việt Nam

Ba nhà đầu tư muốn làm đường nối cảng biển Việt Nam qua Lào

Luật Đất đai (sửa đổi): Bệ đỡ cho thị trường bất động sản bứt phá

Kiên quyết xử lý hành vi vi phạm về khai thác khoáng sản và môi trường 

Môi trường

Cháy lớn tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, huy động gần 450 người dập lửa

Quảng Ngãi phạt 330 triệu đồng doanh nghiệp xả nước thải có chứa xyanua vượt ngưỡng ra môi trường

Nhiều tuyến suối tại TP Thủ Đức ô nhiễm nặng

Một doanh nghiệp xả thải có thông số Xyanua vượt quy chuẩn hơn 20 lần

Video

Kỷ niệm 20 năm Tạp chí Tài nguyên và Môi trường và ra mắt kỷ ra mắt chuyên trang tiếng Anh

Tình yêu Môi trường

Thế giới lo sợ vì biến đổi khí hậu đã “Ngoài tầm kiểm soát” và kêu gọi hành động toàn cầu

Dự án Luật địa chất và khoáng sản sửa đổi khắc phục hạn chế để phát huy nguồn lực khoáng sản

Khoa học

Giải mã tên một dòng sông

Đoàn kết vì hệ thống lương thực bền vững

Hành trình "gọi tên tổn thương" bằng AI của Phó Giáo sư trẻ

Màng chuyển đổi CO2 thành chất hữu dụng

Chính sách

Áp quy định mới, doanh nghiệp bất động sản hết cửa 'tay không bắt giặc'

Quy định mới về thu phí khai thác sử dụng tài liệu địa chất, khoáng sản

Thực hiện chính sách 'giải nén', giảm tải cho các đô thị lớn

Loạt dự án biệt thự du lịch, sân golf ở Ninh Bình vi phạm về đất đai, xây dựng

Phát triển

Bến Tre: Tăng trưởng kinh tế, chú trọng bảo vệ môi trường

Tinh thần “đi trước mở đường”

Đầu năm, loạt địa phương tìm nhà đầu tư cho nhiều dự án lớn

Đà Nẵng xây dựng Công viên Rồng tại quận Sơn Trà

Diễn dàn

Đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông trọng điểm: Tạo nền tảng cho sự tăng trưởng

Nhiều khu vực tại huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) bị sụt lún

Thời tiết ngày 20/2: Miền Bắc vẫn sương mù, trưa có nơi nắng nóng

Thời tiết ngày 19/2: Miền Bắc gia tăng nắng trước khi đón không khí lạnh