Chế độ sở hữu đất đai ở một số nước và ở Việt Nam

09/05/2022

TN&MTChế độ sở hữu đất đai là một vấn đề pháp lý phức tạp, chứa đựng cả những yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Trên thế giới, chế độ sở hữu đất đai có thể được xác lập dựa trên cơ sở pháp luật hoặc tập quán văn hoá, hoặc cả hai. Chế độ sở hữu đối với đất đai bao gồm các quy định về quyền sử dụng, kiểm soát và chuyển nhượng đất, theo đó một cá nhân hoặc một nhóm, cộng đồng hoặc nhà nước, có thể là chủ thể của các quyền này.

Chế độ sở hữu đất đai ở một số nước và ở Việt Nam

Ảnh minh họa

Bài viết này phân tích chế độ sở hữu đất đai ở một số quốc gia, qua đó liên hệ và gợi mở phương hướng hoàn thiện chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam trong thời gian tới.

Chế độ sở hữu đất đai ở In-đô-nê-xi-a

In-đô-nê-xi-a duy trì nhiều chế độ sở hữu khác nhau với đất đai. Quyền sở hữu cá nhân trao cho chủ đất quyền tối cao đối với đất đai, bao gồm sử dụng, quản lí, chuyển nhượng tạm thời và lâu dài. Những loại đất này có thể được đăng kí hoặc không. Đối với đất thuộc sở hữu của nhà nước (chủ yếu là rừng) thì nhà nước có thể thực hiện toàn quyền quản lý, hoặc ở một số khu vực có thể được giao cho cá nhân hoặc tổ chức thuê. Bên cạnh đó, In-đô-nê-xi-a quy định quyền sở hữu đất đai của cộng đồng, song quy định có sự khác nhau ít nhiều giữa các vùng, vì đây là quốc gia có nhiều dân tộc. Dù vậy, trong vấn đề này, hình thức chủ yếu, cơ bản là đất đai thuộc sở hữu của cả cộng đồng. Ví dụ như trường hợp Wakaf (một hệ thống tôn giáo), trong đó đất đai được dành cho các hoạt động tôn giáo và không được bán.

Ở In-đô-nê-xi-a, nhà nước có vai trò điều tiết và quản lí quyền sở hữu đất đai. Nhà nước có toàn quyền kiểm soát đất đai cho các mục đích thương mại và sử dụng tài nguyên, và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định về đất đai của khu vực tư nhân. Việc QLĐĐ được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau song Luật Nông nghiệp cơ bản 1960 là nền tảng. Cơ quan Quản lí Đất đai Quốc gia (BPN) là thiết chế chính cung cấp dịch vụ pháp lí về quản lí đất đai, bao gồm việc hỗ trợ tiếp cận quyền sở hữu cá nhân với đất đai. Nhà nước khuyến khích người dân đăng kí ruộng đất. Điều 1, Luật Nông nghiệp cơ bản năm 1960 quy định toàn bộ vùng đất, vùng biển, vùng trời (bao gồm các nguồn tài nguyên trong đó) là tài sản quốc gia. Điều 4 của Luật này nêu rằng, trên tinh thần thẩm quyền quản lí tối cao của Nhà nước (theo Điều 2) đất đai có thể được cấp quyền sở hữu cho các cá nhân hoặc các tổ chức, trong khi Điều 7 nghiêm cấm việc sở hữu hoặc kiểm soát đất đai quá mức để đảm bảo không làm hại tới các lợi ích công. Đây có thể là một ví dụ hữu ích để tham khảo về việc nhà nước hạn chế đầu cơ đất đai bởi tư nhân nhằm ngăn ngừa sự bất bình đẳng xã hội về sở hữu loại tư liệu sản xuất quan trọng này.

Chế độ sở hữu đất đai ở Thái Lan

Chế độ sở hữu đất đai chia đất đai thành hai loại chính: Đất thuộc quyền sở hữu tư và đất thuộc sở hữu công. Đất của nhà nước hoặc đất công nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ và cũng có thể được cấp chủ quyền. Quyền sở hữu tư nhân với đất đai được áp dụng ở cả nông thôn và thành thị; chủ sở hữu trong loại hình này được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Trong chế độ sở hữu tư nhân có hai loại: quyền sở hữu đầy đủ và quyền chiếm hữu đối với đất đai, được công nhận với cả cá nhân và tổ chức. Trong đó, quyền sở hữu có nghĩa là độc quyền với đất đai; còn đối với quyền chiếm hữu, chủ thể nắm quyền chỉ được phép sử dụng và quản lý đất nhưng không được bán. Do đó, trong chế độ sở hữu tư nhân về đất đai tồn tại các loại giấy chứng nhận khác nhau. Theo pháp luật Thái Lan, người nước ngoài không có quyền sở hữu hoặc chiếm hữu đất; chỉ có những trường hợp ngoại lệ khi đã đầu tư vào Thái Lan đạt mức tối thiểu luật định, hoặc đã được chứng minh hoặc chấp nhận là liên doanh với các đối tác Thái Lan thì mới được hưởng một phần các quyền này.

Chế độ sở hữu đất đai ở Trung Quốc

Hiến pháp Trung Quốc hiện ghi nhận hai chế độ sở hữu đất đai gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Trên tinh thần của Hiến pháp, Luật Đất đai năm 1986 diễn giải rõ hơn hai chế độ sở hữu đất đai là “sở hữu bởi toàn dân” và “sở hữu tập thể bởi những người lao động”, trong đó “sở hữu toàn dân” có nghĩa là quyền sở hữu được thực hiện bởi Hội đồng Nhà nước (State Council) và nhân danh nhà nước.

Trung Quốc không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai và cách duy nhất để chuyển quyền sở hữu đất đai là thông qua việc nhà nước trưng dụng đất đai thuộc sở hữu tập thể. Quyền tài sản đối với đất đai thuộc sở hữu nhà nước được xác định tương đối rõ hơn, theo đó có thể được chuyển nhượng, trao đổi và thế chấp. Điều 8 Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc quy định: “Nhân dân lao động là thành viên của tổ chức kinh tế tập thể ở nông thôn có quyền, theo luật định, đối với đất canh tác và đất sườn đồi trong việc sử dụng cho mục đích cá thể để tăng gia và chăn thả gia súc thuộc sở hữu tư”. Đối với chế độ sở hữu tập thể về đất đai, từng thành viên của tập thể đó đóng hai vai trò, vừa là đồng chủ sở hữu của toàn bộ diện tích khu đất và vừa là chủ sở hữu quyền sử dụng thửa đất cụ thể nằm trong đó. Theo quy định tại Điều 9 Hiến pháp hiện hành, Nhà nước giữ quyền sở hữu đối với các loại “tài nguyên khoáng sản, nước, rừng, núi, đồng cỏ, đất hoang, bãi bồi và các tài nguyên thiên nhiên khác” trừ các khu vực đất rừng, núi, đồng cỏ, đất hoang và bãi bồi được luật định thuộc về sở hữu tập thể. Điều 10 của Hiến pháp khẳng định, đất ở các đô thị thuộc sở hữu nhà nước, đất đai vùng nông thôn và các vùng ven đô thuộc sở hữu tập thể. Về mặt pháp lý, kể cả các khu nhà ở và đất canh tác và sườn đồi được giao cho mục đích tư nhân cũng thuộc sở hữu của tập thể, trừ những địa điểm được luật định thuộc về sở hữu nhà nước. Nhà nước có thể tiến hành sung công hoặc trưng dụng đất thuộc sở hữu tập thể có bồi thường theo quy định của luật để sử dụng cho các mục đích công cộng.

Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam

Kể từ Hiến pháp năm 1980 đến nay, Việt Nam chỉ thừa nhận duy nhất một chế độ sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân. Có thể thấy, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia hiện chỉ thừa nhận duy nhất một chế độ sở hữu đất đai (cùng với CHDCND Lào). Việc này trong thực tế có thể xem là một nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, hạn chế trong quản lí, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất. Ngoài khó khăn, hạn chế trong quản lí, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất, mô hình một chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như hiện nay còn có bất cập là chưa làm rõ được phạm vi thẩm quyền cũng như chế độ trách nhiệm của nhà nước khi đóng vai trò đại diện chủ sở hữu, dẫn đến tình trạng tham nhũng liên quan đến QLĐĐ xảy ra rất nghiêm trọng.

Để giải quyết khó khăn, hạn chế nêu trên, cần thực hiện nhiều biện pháp, trong đó có việc nghiên cứu điều chỉnh chế độ sở hữu đất đai theo hướng công nhận đa hình thức sở hữu.

Cần thấy rằng, việc xác lập một chế độ sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân đối với đất đai diễn ra vào giai đoạn sau khi đất nước thống nhất (1975), khi mà phần lớn người dân còn làm nông nghiệp và nhà nước cần bảo đảm mục tiêu nuôi sống 50 triệu người, cũng như “đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”. Trong thời gian tới, khu vực nông nghiệp ngày càng thu hẹp, các khu vực công nghiệp, dịch vụ ngày càng mở rộng, đời sống của ngày càng nhiều người dân Việt Nam không còn phụ thuộc vào nông nghiệp và đất đai nông nghiệp. Nông nghiệp của nước ta cần phát triển theo mô hình khác, vì thế việc duy trì một chế độ sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân về đất đai tỏ ra không còn cần thiết, cũng như không còn phù hợp nữa. Như đã đề cập, việc tiếp tục duy trì quy định này gây ra nhiều hạn chế, có thể làm cản trở sự phát triển của đất nước xét từ nhiều khía cạnh, cả về phương diện kinh tế và xã hội.

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy Nhà nước nên cân nhắc việc công nhận chế độ đa sở hữu về đất đai đã được quy định ở nhiều nước, và đã từng được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 1959 (và trước đó là Luật Cải cách ruộng đất năm 1953) của Việt Nam. Cụ thể, bên cạnh hình thức sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước nên nghiên cứu công nhận cả hình thức sở hữu chung của cộng đồng và sở hữu tư nhân với một số loại đất đai, kèm theo những giới hạn để phòng chống khả năng đầu cơ, tích tụ đất đai với diện tích lớn gây bất bình đẳng và lãng phí trong sử dụng đất. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, việc công nhận đa hình thức sở hữu đất đai không làm triệt tiêu hay làm suy yếu vai trò và các quyền của nhà nước với đất đai. Ngược lại, việc này chính là để làm tăng hiệu quả thực hiện quyền QLĐĐ của nhà nước. Cùng với các hình thức sở hữu khác như sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân, hình thức sở hữu toàn dân với đất đai vẫn cần được duy trì, và quyền của nhà nước trong việc thu hồi có đền bù đất đai (kể cả đất đai thuộc sở hữu chung của cộng đồng và sở hữu tư nhân) để bảo đảm các lợi ích công cộng vẫn được bảo vệ.

Từ một khía cạnh khác, việc thừa nhận đa hình thức sở hữu đất đai cũng không có nghĩa là xa rời hay đối lập với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được xác định trong Hiến pháp nước ta. Ngược lại, việc thừa nhận đa hình thức sở hữu đất đai chính là góp phần củng cố pháp quyền vì sẽ góp phần khắc phục tình trạng lạm dụng quyền QLĐĐ để tham nhũng. Ngoài ra, thực tế cho thấy, quan điểm cứng nhắc cho rằng trong chủ nghĩa xã hội, tất cả những tư liệu sản xuất cơ bản, về mặt hình thức pháp lý, phải thuộc về sở hữu toàn dân đã tỏ ra không còn phù hợp nữa, đặc biệt khi mà năng lực QLNN - người đại diện cho các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân - còn hạn chế dẫn đến việc khai thác, sử dụng các tư liệu sản xuất đó thiếu hiệu quả. Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, có thể thấy, việc theo đuổi mô hình chủ nghĩa xã hội không hẳn là rào cản cho việc thừa nhận chế độ đa sở hữu về ruộng đất. Còn từ kinh nghiệm của In-đô-nê-xi-a, có thể thấy, việc khẳng định toàn bộ mặt đất, mặt nước, vùng trời đều là tài sản quốc gia và nhà nước có thẩm quyền quản lí tối cao đối với tài sản quốc gia (một cách nói khác của sở hữu toàn dân) cũng không mặc nhiên loại trừ khả năng thừa nhận chế độ đa sở hữu đối với đất đai.

PGS.TS. VŨ CÔNG GIAO; ThS. NGUYỄN ANH ĐỨC

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tin tức

Việt Nam - Hoa Kỳ : Mở rộng hợp tác lĩnh vực tài nguyên và môi trường

Rà soát, cập nhật nhu cầu thích ứng biến đổi khí hậu

Thứ trưởng Lê Minh Ngân: Dự thảo quy hoạch không gian biển quốc gia phải tạo được sự đồng thuận cao trong toàn xã hội

Đoàn công tác Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống thiên tai làm việc với UBND tỉnh Lào Cai

Tài nguyên

Thanh Hóa chỉ đạo công an xử lý các trường hợp trục lợi trong việc thu hồi đất dự án

Quy định cơ chế, điều kiện để giải quyết nhu cầu tách thửa đối với đất nông nghiệp nằm xen kẽ với đất ở trong cùng thửa đất

Thanh Hóa: Đẩy nhanh việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Giải pháp khai thác cát bền vững

Môi trường

Điều hướng làng nghề tái chế tham gia EPR

Nghi Xuân xử phạt 2 trại nuôi lợn vi phạm về môi trường

Triển khai các giải pháp cấp bách để bảo tồn các loài chim hoang dã

Hà Nội thực hiện các giải pháp cải thiện chất lượng không khí

Video

Chương trình "Ký ức mầu xanh: của Tạp chí Tài nguyên và Môi trường tri ân tại Côn Đảo

Tạp chí Tài nguyên và Môi trường trồng phát động trồng cây Chùa xanh tại chùa Núi Một, Côn Đảo

Họp báo Chính phủ: Quản lý chặt đấu giá bất động sản

Hòa Bình: Lãnh đạo Ban QLDA ĐTXD CCT NN&PTNT tỉnh Hòa Bình có chấm cho nhà thầu không đủ năng lực trúng thầu hay không