Bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho người dân trong các đợt xâm nhập mặn

03/07/2024

TN&MTKhu vực Đồng bằng sông Cửu Long vừa trải qua đợt xâm nhập mặn cao điểm trong mùa khô 2024-2025 khiến hơn 15 nghìn hộ dân thuộc nhiều địa phương bị ảnh hưởng do thiếu nước sinh hoạt. Theo nhận định của các nhà khoa học, từ nay đến hết mùa khô 2023-2024 sẽ tiếp tục có thêm một số đợt xâm nhập mặn, vì vậy, các địa phương cần chủ động các giải pháp nhằm bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân trong vùng.

Bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho người dân trong các đợt xâm nhập mặn

Khó khăn trước tình trạng hạn mặn và biến đổi khí hậu

Hiện nay, vùng ĐBSCL đang vào giai đoạn giữa mùa khô 2024-2025, cao điểm của nắng nóng và xâm nhập mặn (XNM), ít có khả năng xuất hiện mưa trái mùa. Nguồn nước về ĐBSCL trong tháng 3 ở mức thấp, dẫn đến XNM cao đến hết mùa khô, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt.

Theo nhận định của Trung tâm dự báo KTTV quốc gia và các cơ quan chuyên môn, từ nay đến hết mùa khô 2023-2024, khu vực ĐBSCL sẽ có một số đợt XNM nữa. Các đợt XNM cao điểm ở vùng cửa sông Cửu Long khả năng xuất hiện trong các ngày từ 8 đến 13/4 và từ 22 đến 28/4. Các cửa sông Cửu Long, ranh mặn 4 g/l có khả năng xâm nhập từ 50 đến 65 km (tùy từng cửa sông); ranh mặn 4 g/l lớn nhất trên sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây ở mức từ 80 đến 85 km.

Theo Cục Thủy lợi, toàn vùng ĐBSCL hiện có khoảng 14 triệu người dân sống ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%, trong đó khoảng 8,5 triệu người được sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung và 5 triệu người sử dụng nước quy mô hộ gia đình.

Qua thống kê, toàn vùng có khoảng 3.928 công trình cấp nước sinh hoạt, trong đó có khoảng 30% số lượng công trình sử dụng nước mặt. Tổng công suất cấp nước từ các công trình cấp nước tập trung khoảng 1.000.000 m3/ngày đáp ứng được khả năng cấp nước tập trung khoảng 66% dân số nông thôn. Đối với mô hình cấp nước quy mô hộ gia đình, khu vực này có khoảng một triệu hộ sử dụng loại hình cấp nước nhỏ lẻ, trong đó chủ yếu là hình thức khai thác bằng giếng khoan.

Tỷ lệ sử dụng giếng cao ở các khu vực như: Tiền Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh nơi có nguồn nước ngầm tương đối tốt. Hộ gia đình sử dụng nước mặt từ sông, kênh, ao hồ phổ biến ở các tỉnh: Vĩnh Long, Cà Mau, Kiên Giang. Mặc dù vậy, chất lượng và số lượng nước không ổn định, đặc biệt là các tháng mùa khô.

Thời gian gần đây, do diễn biến thời tiết bất thường, cực đoan và sự phân bố dân cư tại khu vực ĐBSCL không đồng đều đã ảnh hưởng đến công tác cấp nước sinh hoạt cho người dân vùng nông thôn trong mùa khô năm 2023-2024. Đến nay, khu vực này có khoảng 15.274 hộ dân thiếu nước sinh hoạt do ảnh hưởng của hạn hán, XNM, cụ thể: Sóc Trăng 6.400 hộ, Bạc Liêu 4.960 hộ, Cà Mau 3.914 hộ. Một số hạng mục công trình bị hỏng ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nước sinh hoạt cho người dân. Bên cạnh đó, nguồn nước suy giảm, nhiễm mặn, dẫn đến công trình không đáp ứng yêu cầu công suất cấp nước cho các hộ dân.

Tại tỉnh Bến Tre, 67 nhà máy cấp nước sạch đang hoạt động với tổng công suất khoảng 250.000 m³/ngày đêm, chủ yếu khai thác từ nguồn nước mặt tại chỗ để xử lý. Nhưng đợt XNM vừa qua các nhà máy nước gặp nhiều khó khăn do nguồn nước đều bị nhiễm mặn. Độ mặn nước sau xử lý tại khu vực các huyện Ba Tri dao động từ 0,1 đến 2,4‰, Bình Đại từ 0,1 đến 4,9‰, Thạnh Phú từ 0,1 đến 3,8‰, Mỏ Cày Bắc từ 0,1 đến 4,0‰, Mỏ Cày Nam từ 0,2 đến 4,0‰,...

Nhằm bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân trong thời điểm XNM, vừa qua, một số địa phương như: Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang đã chủ động các giải pháp cấp nước cho nhân dân vùng bị ảnh hưởng, nhất là khu vực dân cư sinh sống thưa thớt; hỗ trợ thiết bị trữ nước cho các hộ khó khăn; thiết lập các điểm cấp nước công cộng; khu vực có công trình cấp nước tập trung tổ chức cấp nước luân phiên, đấu nối hòa mạng, sử dụng thiết bị RO,...

Hiện nay, Bộ NN&PTNT đã bố trí kinh phí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 để đầu tư công trình trữ nước và hệ thống cung cấp nước sinh hoạt tại các vùng có nguồn nước bị ô nhiễm, vùng khan hiếm nước, vùng bị ảnh hưởng XNM cho bảy tỉnh ven biển thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, thiếu nước, XNM. Sau khi hoàn thành sẽ cung cấp nước sạch cho khoảng 132.000 hộ bị thiếu nước sinh hoạt trong thời gian mùa khô.

Cần có các giải pháp thích nghi và chung sống lâu dài với xâm nhập mặn

Tại buổi làm việc trực tiếp với tỉnh Tiền Giang và trực tuyến với các tỉnh Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau về công tác phòng, chống hạn, mặn ngày 7/4/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà cho rằng, nắng nóng, khô hạn, XNM và sụt lún là câu chuyện chung của ĐBSCL. Chúng ta đã thật sự thích nghi và chung sống với XNM.

Theo Phó Thủ tướng, trong bối cảnh hiện nay, tình hình BĐKH, thời tiết cực đoan ngày càng khốc liệt, khó khăn hơn. Tiền Giang và các địa phương đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ về hạ tầng thủy lợi, phi công trình cho thấy, các tỉnh đã kiểm soát được tình hình hạn, mặn. Đặc biệt, với sự chủ động cung cấp đầy đủ thông tin chính xác và sự điều hành sản xuất của vùng, so với các đợt hạn, mặn trước đây, mùa khô năm 2024, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các địa phương hầu hết không ảnh hưởng. Thiếu nước sinh hoạt có xảy ra, nhưng mang tính cục bộ tại các địa phương. Về cơ bản, người dân vẫn được cung cấp nước tập trung từ nhà nước hoặc hình thức công tư. Các địa phương hết sức trách nhiệm trong cung cấp nước sinh hoạt cho người dân. Cụ thể, như Tiền Giang, dựa trên những dự báo của cơ quan chuyên môn, đối với những nơi có khả năng thiếu nước đã được tỉnh chủ động.

Đến nay, nắng nóng, khô hạn và XNM năm nay chưa gay gắt bằng thời điểm năm 2019 - 2020, nhưng gay gắt hơn nhiều năm. Tuy nhiên, các địa phương đã có những kế hoạch, công trình, đặc biệt là công tác chỉ đạo điều hành, phát huy tại chỗ, cung cấp nước tập trung, cung cấp thông tin và sự tham gia, nhận thức của người dân trong dự trữ nước,…

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ghi nhận nỗ lực của các địa phương trong phòng, chống hạn, mặn và cho rằng, kinh nghiệm trong ứng phó hạn, mặn của các địa phương cần có tầm nhìn đối với đồng bằng và đặt trong bối cảnh tình hình sẽ cực đoan hơn do thiếu lượng nước ngọt từ thượng nguồn. Do đó, chúng ta phải chủ động chung sống với hạn, mặn và có những giải pháp căn cơ, đồng bộ trên toàn vùng cũng như địa phương.

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà thống nhất đầu tư hệ thống hạ tầng thủy lợi theo phân bổ dựa trên tính chất của nguồn nước. Về lâu dài, các địa phương phải tính toán kết nối các nhà máy cung cấp nước để đưa nước sạch về cho người dân. Đồng thời, đối với các vùng dân cư thưa, địa bàn khó khăn, cần xem xét bố trí lại dân cư, kể cả khu vực sạt lở. Dân cư có tập trung mới bố trí được hạ tầng như: Điện, đường, trường, trạm, nước,… Vùng duyên hải, ven biển phải xem xét lại cơ cấu kinh tế, nông nghiệp, thủy sản, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng và ứng dụng công nghệ thích ứng. Bên cạnh đó, cần phải tính toán có những trạm cấp nước mà khu vực lấy nước nằm sâu trong vùng nước ngọt; đầu tư hệ thống đảm bảo công suất và duy trì lâu dài và yêu cầu các bộ, ngành liên quan cần nghiên cứu ứng dụng các vật liệu để sản xuất các bình chứa nước ngầm, trên mái nhà nhẹ và tiện lợi; nghiên cứu và phổ biến mô hình này.

Trước những tác động bất lợi và khó lường của hạn mặn, BĐKH của mùa khô năm nay, theo khuyến cáo của các chuyên gia về nông nghiệp và thủy lợi, trước mắt ĐBSCL cần tập trung theo dõi, dự báo để có giải pháp phối hợp ứng phó với hạn, mặn; đồng thời, các tỉnh thành cần chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, phát triển kinh tế và an sinh xã hội trong toàn khu vực.

Trong dài hạn, tình hình hạn hán, mặn xâm nhập, thiếu nước còn có thể sẽ trở nên gay gắt hơn do ảnh hưởng BĐKH và các đập thủy điện ở thượng nguồn. Chính vì thế, ĐBSCL ngoài chuyển đổi sản xuất để thích ứng với hạn, mặn, còn phải có giải pháp công trình dài hơi chủ động, ưu tiên tích trữ, dẫn nước ngọt phục vụ sinh hoạt người dân.

PHƯƠNG CHI
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 9 năm 2024

Gửi Bình Luận