Thực hiện nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở các tỷ lệ



TN&MTNgay từ thập niên 90 của Thế kỷ trước, lần đầu tiên các nhà khoa học Việt Nam tự lực thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển theo mạng lưới. Sau 10 năm thực hiện, dù gặp rất nhiều khó khăn cả về trang thiết bị khảo sát cũng như nhân lực, cơ sở vật chất nhưng cuối cùng đã hoàn thành công tác điều tra vùng biển nông ven bờ Việt Nam đến độ sâu 30 m nước với diện tích 97.431 km2. Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam có số liệu điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển tỷ lệ 1/500.000.

Sự thành công trong mỗi nhiệm vụ đã được ông Trịnh Nguyên Tính, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên – môi trường biển khu vực phía Bắc tiếp tục chia sẻ với bạn đọc của Tạp chí Tài nguyên và Môi trường:

Ông Trịnh Nguyên Tính, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên – môi trường biển khu vực phía Bắc

Phóng viên: Xin ông cho biết khái quát về nhiệm vụ điều tra cơ bản trong từng giai đoạn cụ thể?

Ông Trịnh Nguyên Tính: Một thực tế là việc điều tra cơ bản TN, MT biển ở Việt Nam được thực hiện ở nhiều bộ, ngành nhằm phục vụ cho công tác quản lý theo chức năng nhiệm vụ, do vậy tôi chỉ tập trung vào công tác điều tra cơ bản (ĐTCB) về TN, MT biển cũng như các Chương trình ĐTCB của Chính phủ từ năm 2007 đến nay và chia thành các nhóm, theo các giai đoạn sau:

Điều tra cơ bản về TN, MT biển: Triển khai từ năm 1991 với Đề án “Điều tra địa chất, tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ (0-30 m nước) Việt Nam, tỷ lệ 1/500.000” (gọi tắt là Đề án 500) do Trung tâm Địa chất – Khoáng sản Biển, trực thuộc Cục Địa chất Việt Nam, Bộ Công nghiệp chủ trì thực hiện. Kết quả đã thành lập được bộ bản đồ tỷ lệ 1/500.000, bao gồm 11 bản đồ chuyên đề: Bản đồ độ sâu đáy biển, địa mạo, địa chất đệ tứ, trầm tích tầng mặt, thuỷ động lực, cấu trúc kiến tạo, dị thường xạ phổ, dị thường địa hóa, phân bố và dự báo khoáng sản, địa chất môi trường. Bộ bản đồ này đã mở rộng và bổ sung cho bộ bản đồ ĐC&KS Việt Nam phần đất liền tỷ lệ 1/500.000 đã được xuất bản.

Trên cơ sở kết quả của Đề án 500, Đề án “Điều tra địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất vùng biển Nam Trung bộ từ 0-30m nước ở tỷ lệ 1/100.000 và một số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1/50.000” (đề án Nam Trung Bộ) thực hiện từ năm 2001- 2005. Kết quả đã điều tra tổng hợp về tài nguyên khoáng sản, môi trường, tai biến địa chất trên diện tích khảo sát: 9.750 km2 (tỷ lệ 1:100.000) và 389 km2 (tỷ lệ 1:50.000) vùng biển 0-30 m nước từ Nam Phú Yên đến Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cán bộ, công nhân viên Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên – môi trường biển khu vực phía Bắc

Kết quả điều tra của Đề án 500 cho thấy, tài nguyên vật liệu xây dựng của khu vực châu thổ ngầm sông Mê Kông là rất lớn, trong đó có vùng biển Sóc Trăng. Tỉnh Sóc Trăng đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho mở Đề án điều tra phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản biển; định hướng khai thác khoáng sản biển của địa phương với diện tích 5.552 km2.

Đề án tổng thể về ĐTCB và quản lý TN, MT biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (gọi tắt là Đề án 47 gồm 14 dự án. Trong đó, 6 dự án triển khai công tác điều tra trên biển: Đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1: 50.000 khu vực thềm lục địa từ Ninh Thuận đến Kiên Giang phục vụ nhiệm vụ quản lý biển của các bộ, ngành, địa phương liên quan; thành lập hệ thống bản đồ biển phục vụ nhiệm vụ phòng thủ của Hải quân nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển của các bộ, ngành, địa phương liên quan; điều tra, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, địa chất công trình, đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng lãnh thổ phục vụ xây dựng và phát triển hạ tầng dải ven bờ biển Việt Nam; điều tra đặc điểm địa chất, cấu trúc – địa động lực, hiện trạng môi trường và dự báo tai biến vùng biển Bình Thuận – Cà Mau (đến độ sâu 300m nước), tỷ lệ 1:500.000; điều tra cơ bản, nghiên cứu xây dựng cơ sở quan trắc và công nghệ xử lý các yếu tố tự nhiên tác động lên công trình ở các vùng biển phục vụ nhiệm vụ kinh tế kỹ thuật và tăng cường an ninh quốc phòng trên biển và thềm lục địa Việt Nam (hoàn thành năm 2019); bay đo từ – trọng lực tỷ lệ 1:250.000 biển và hải đảo Việt Nam; điều tra cơ bản TN,MT các bãi bồi ven biển phục vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ QP-AN; điều tra khảo sát bổ sung, xây dựng bản đồ dị thường động lực các vùng biển Việt Nam phục vụ phát triển kinh tế biển và QP-AN;

Sau 10 năm triển khai thực hiện, nhiều dự án ĐTCB đã hoàn thành, số dự án đang triển khai hoặc chưa triển khai thực hiện được chuyển tiếp sang Chương trình trọng điểm ĐTCB TN, MT biển và hải đảo đến năm 2030.

Chương trình trọng điểm ĐTCB TN, MT đến năm 2030: Các dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản phải mang tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng, đa mục tiêu, có tính kế thừa, phát triển, gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu khoa học và được Nhà nước quản lý thống nhất. Cơ sở dữ liệu và thông tin kết quả điều tra cơ bản TN,MT B&HĐ phải bảo đảm kịp thời, đầy đủ, tin cậy, có tính định lượng cao và được số hóa, tích hợp, chia sẻ và cập nhật, khai thác, sử dụng chung. Chương trình trọng điểm được phê duyệt gồm 23 Dự án mở mới và 14 dự án chuyển tiếp.

PV: Là đơn vị được Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam giao nhiệm vụ thực hiện điều tra trên biển, vậy kết quả điều tra cơ bản của các dự án do Trung tâm thực hiện đạt được như thế nào?

Ông Trịnh Nguyên Tính: Từ năm 1991 đến nay, đã tổ chức thực hiện điều tra cơ bản về địa chất – khoáng sản biển với tổng diện tích khoảng 270.000 km2 vùng biển ở tỷ lệ 1/500.000. Trong đó: Từ 1991-2000 đã tiến hành điều tra được 97.431km2 vùng biển ven bờ Việt Nam (độ sâu 0-30 m nước) tỷ lệ 1/500.000; từ 2008 đến 2011 hoàn thành công tác điều tra khảo sát trên diện tích 147.130 km2 vùng biển Việt Nam độ sâu 30-100 m nước tỷ lệ 1/500.000. Đã có số liệu điều tra khoảng 22.000 km2 vùng biển Tư Chính – Vũng Mây ở tỷ lệ 1/500.000. Hoàn thành ĐTCB về địa chất – khoáng sản biển ở tỷ lệ 1:100.000 trên diện tích 22.718km2 đối với các vùng trọng điểm kinh tế, an ninh quốc phòng.

Nếu được cấp đủ kinh phí theo yêu cầu, dự kiến đến năm 2025, khoảng 50% diện tích các vùng biển của Việt Nam sẽ có số liệu ĐTCB TN,MT biển ở tỷ lệ 1/500.000.

Thực tế ngoài hiện trường

Kết quả của các đề án, dự án đã hoàn thành, cụ thể:

Đề án: “Điều tra địa chất, tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ (0-30 m nước) Việt Nam, tỷ lệ 1/500.000” được thực hiện từ năm 1991 đến năm 2000, tổng kết năm 2001: Đây là đề án ĐTCB về địa chất, khoáng sản biển lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam với quy mô lớn bao gồm nhiều lĩnh vực có liên quan đến địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường, địa chất tai biến.

Qua đó, đã bước đầu đánh giá rõ triển vọng khoáng sản đáy biển vùng biển nông ven bờ Việt Nam (0-30 m nước) chủ yếu là sa khoáng: ilmenit, zircon, rutin, leucoxen,… có Au, Sn đi kèm; khoanh định được 7 vùng triển vọng nhất (loại A) và 19 vùng có triển vọng (loại B). Tổng tài nguyên dự báo: 233 triệu tấn quặng sa khoáng. Thông qua Đề án này, lần đầu tiên trầm tích biển được điều tra đánh giá là một loại khoáng sản (vật liệu xây dựng-VLXD). Đã khoanh được 18 trường VLXD với tổng tài nguyên dự báo: 37 tỷ m3.

Đề án: “Điều tra địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất vùng biển Nam Trung bộ từ 0-30 m nước ở tỷ lệ 1/100.000 và một số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1/50.000” được thực hiện từ năm 2001 đến năm 2005.
Đây là đề án điều tra địa chất, khoáng sản biển ở tỷ lệ lớn (1/100.000 và 1/50.000) lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam. Diện tích khảo sát: 9.750 km2 (tỷ lệ 1/100.000) và 389 km2 (tỷ lệ 1/50.000). Những kết quả chính đạt được của Đề án gồm:

Thành lập được 13 bộ bản đồ chuyên đề theo tỷ lệ điều tra. Các kết quả này được quản lý trong hệ cơ sở dữ liệu về địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất biển (dạng GIS và dạng bảng biểu);

Đã khoanh định được 9 diện tích có triển vọng cấp A đối với sa khoáng ilmenit và sa khoáng tổng hợp trong trầm tích biển với tài nguyên dự báo khoảng 18,6 triệu tấn tinh quặng tổng hợp. Khoanh định 8 diện tích có triển vọng cấp A đối với cát vật liệu xây dựng và cuội sỏi vật liệu xây dựng với tổng trữ lượng dự báo là 36,22 tỷ m3;

Đề án “Khảo sát, đánh giá tiềm năng tài nguyên khoáng sản vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng, tỷ lệ 1/100.000” được thực hiện từ năm 2006 đến năm 2009: Đây là Đề án điều tra cơ bản địa chất khoáng sản biển đầu tiên do yêu cầu trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, xuất phát từ thực tế của địa phương (tỉnh Sóc Trăng): phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản biển; định hướng khai thác khoáng sản biển của địa phương. Đề án đã hoàn thành khối lượng khảo sát trên diện tích 5.552 km2. Trong đó, đã có những bổ sung mang tính đột phá về thiết bị và phương pháp phục vụ giải quyết mục tiêu đề ra. Những kết quả chính đã đạt được như: Đã hoàn thiện hệ thống phương pháp nghiên cứu, quy trình công nghệ về điều tra địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất biển ở tỷ lệ 1:100.000 có tính hiện đại và hội nhập cao; Xác định tiềm năng các vật liệu xây dựng (cát, sạn, sỏi xây dựng và san lấp) khoảng 13,9 tỷ m3 có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài nước; Thành lập được 15 bộ bản đồ tỷ lệ 1/100.000 vùng biển ven bờ Sóc Trăng và lập báo cáo tổng kết; đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý TN&BVMT phục vụ phát triển bền vững vùng nghiên cứu.

Dự án: “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam” triển khai trên vùng biển Hải Phòng – Quảng Ninh tỷ lệ 1/100.000 và vùng biển trọng điểm Bạch Long Vỹ tỷ lệ 1/50.000 (2007- 2008), trên vùng biển Hà Tiên – Phú Quốc tỷ lệ 1/100.000 (2008) và vùng biển Việt Nam độ sâu 30 m đến 100 m nước tỷ lệ 1/500.000 (2007-2011): Hoàn thành công tác điều tra, xử lý các kết quả phân tích, các tài liệu thực tế, thành lập 13 báo cáo chuyên đề thuộc công tác địa chất, báo cáo kết quả công tác địa vật lý. Dự án đã làm rõ các cấu trúc địa chất tầng nông vùng biển 0-100m nước ở tỷ lệ 1:500.000 và khoanh định được 13 vùng triển vọng khoáng sản rắn đáy biển theo tài liệu địa vật lý; khẳng định sự tồn tại của các đới bờ cổ 90-120 m nước, 50-60 m nước, 35- 45 m nước có tiềm năng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tìm kiếm khoáng sản rắn đáy biển. Tổng tài nguyên về sa khoáng (ilmenit-zircon, rutil +anatas) 87 triệu tấn quặng tổng; Tổng tài nguyên dự báo vật liệu xây dựng đáy biển là 156 tỷ m3.

Lãnh đạo Trung tâm luôn ghi nhận sự nỗ lực của nhân viên

Dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Thừa Thiên Huế – Bình Định (0-60m nước) tỷ lệ 1/100.000” được thực hiện từ năm 2011 đến năm 2015:

Đây là dự án điều tra cơ bản phục vụ các mục tiêu quy hoạch, phát triển bền vững KT-XH Khu kinh tế trọng điểm miền Trung. Dự án đã hoàn thành điều tra cơ bản đa lĩnh vực trên diện tích 9500 km2 vùng biển theo tỷ lệ điều tra 1/100.000: Đo đạc thu dữ liệu 10.000 km tuyến địa vật lý và đo sâu, gần 5.500 trạm đo phổ gamma đáy biển; hơn 6.000 trạm khảo sát trên biển theo mạng lưới, hơn 3000m khoan các loại; gần 32.000 kết quả phân tích các loại mẫu địa chất, khoáng sản, môi trường biển. Hoàn thành 17 bản đồ, 15 báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng hợp về địa hình, địa mạo, địa vật lý, cấu trúc – kiến tạo, địa chất, khoáng sản, trọng sa, địa hóa, địa động lực, thủy – thạch động lực, địa chất môi trường, tai biến địa chất, địa chất công trình,… là những tư liệu quý phục vụ đa mục tiêu. Đây là nguồn tư liệu về TN, MT biển vô cùng quý giá, cung cấp những thông tin khoa học, những hiểu biết có giá trị phục vụ quy hoạch, quản lý biển, phát triển không gian biển góp phần phục vụ phát triển kinh tế biển bền vững trong những năm tới.

Dự án nhánh “Điều tra cơ bản về địa hình, địa chất công trình vùng biển đảo Trường Sa và vùng biển DKI” được thực hiện qua 2 giai đoạn (2010- 2012 và 2016- 2019). Dự án này đã cung cấp những số liệu về địa hình, địa chất công trình vùng biển đảo Trường Sa và vùng biển DKI ở tỷ lệ 1/5000-1/100.000 phục vụ cho xây dựng các mô hình vật lý đánh giá sóng lan truyền tác động lên công trình phục vụ thiết kế kỹ thuật duy tu, nâng cấp các nhà giàn DKI.
Các dự án: “Điều tra đặc điểm địa chất, cấu trúc – địa động lực, hiện trạng môi trường và dự báo tai biến vùng biển Bình Thuận – Cà Mau (đến độ sâu 300m nước), tỷ lệ 1/500.000”, “Nghiên cứu, điều tra, đánh giá, khoanh định các cấu trúc địa chất có tiềm năng và triển vọng khí hydrate ở các vùng biển Việt Nam”, “Điều tra cơ bản, TNMT các bãi bồi ven biển phục vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh quốc phòng” đang được đơn vị tổ chức triển khai thực hiện theo kinh phí được cấp hàng năm.

Trân trọng cảm ơn ông./.

                                                                                                                                          Hồng Minh (thực hiện)

There are no comments yet

Tin mới hơn ...