Nhìn lại thiên tai 2020 và bài học giữ rừng



TN&MTThời tiết dị thường, cực đoan tiếp tục là một trong những thách thức lớn nhất của Việt Nam năm 2020 và chưa có dấu hiệu sẽ giảm bớt trong tương lai. Tuy vậy, nếu hành động đúng và kịp thời, chúng ta vẫn giảm nhẹ được rủi ro thiên tai, bằng cách phải giữ được diện tích rừng tự nhiên còn lại và phủ xanh trở lại những cánh rừng đã mất.

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng – thủy văn quốc gia (Bộ TN&MT), thời tiết năm 2020 chịu ảnh hưởng của cả hiện tượng El Nino và La Nina nên đã có những diễn biến khá phức tạp. Nắng nóng gay gắt, hạn mặn diễn biến phức tạp ngay từ đầu năm, bão và mưa lớn dồn dập vào cuối năm.

Theo thống kê của Tổng cục Phòng, chống thiên tai (Bộ NN&PTNT), cả năm 2020 đã xảy ra 16 loại hình thiên tai trên cả nước. Thiên tai đã làm 288 người chết, 65 người mất tích và 876 người bị thương; hàng trăm nghìn ngôi nhà bị hư hại, tốc mái, di dời khẩn cấp và ngập nước. Ngoài ra, các loại hình thiên tai cũng làm thiệt hại 196.887 ha lúa và hoa màu; 51.923 con gia súc và 4,11 triệu con gia cầm chết, cuốn trôi; hàng nghìn ki-lô-mét đê kè, kênh mương, bờ sông, bờ biển, đường giao thông bị sạt lở, hư hỏng. Ước tính thiệt hại về kinh tế lên đến hơn 35.181 tỷ đồng.

 

Các lực lượng tìm kiếm nạn nhân trong vụ sạt lở đất vùi lấp 11 người tại huyện Phước Sơn (tỉnh Quảng Nam). Ảnh: TTXVN

Bão lũ, ngập úng, sạt lở đất cực đoan gây thiệt hại nghiêm trọng ở nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực miền Trung. “Bão chồng bão, lũ chồng lũ” thời gian kéo dài liên tục. Đáng chú ý, trong gần một tháng 10, liên tiếp xảy ra năm cơn bão (số 6, 7, 8, 9, 10), trong đó cơn bão số 9 mạnh nhất trong 20 năm trở lại đây. Mưa diện rộng đã gây lũ lớn trên báo động 3 tại 16 tuyến sông, trong đó bốn tuyến sông lớn vượt lịch sử. Mặt khác, địa hình đồi núi có độ dốc cao, chia cắt mạnh, kết cấu đất vùng núi phần lớn là bở rời, dễ sạt trượt, kết hợp mưa vượt mức lịch sử nên lũ tập trung nhanh, nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất, lũ quét.

Bước sang năm 2021, theo dự báo, các hình thái thời tiết cực đoan ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina. Kéo theo đó là nguy cơ đe dọa các vùng sản xuất, khu vực sinh sống của người dân không loại trừ bất cứ địa phương, vùng miền nào.

Nhiều chuyên gia cho rằng, một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng này là tình trạng mất rừng tràn lan. Dù ngành lâm nghiệp đã có nhiều nỗ lực trồng mới, khôi phục nhưng chất lượng rừng chưa cao. Trong Báo cáo của Chính phủ gửi đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIV về tình hình thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020 cho biết, trong 10 năm (2011 – 2020), cả nước trồng được khoảng 2,15 triệu ha rừng sản xuất để tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ. Nhưng đổi lại, diện tích rừng tự nhiên ở nhiều vùng lại giảm mạnh. Như Tây Nguyên, năm 2019, diện tích rừng trồng ở khu vực này tăng 18.387ha so với năm 2018, nhưng diện tích rừng tự nhiên giảm 15.753ha.

Theo đại diện Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (Bộ TN&MT), rừng sản xuất kém hơn nhiều so với rừng tự nhiên trong việc giữ nước, giữ đất, giữ môi trường. Với những sườn dốc có rừng tự nhiên, yếu tố kháng trượt được gia cố bởi thảm phủ thực vật nguyên sinh nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều chủng loại, khi đó tác dụng thẩm thấu tốt hơn. Còn rừng trồng, rừng sản xuất phía dưới không còn thảm thực vật nào khác, tác dụng thẩm thấu không còn. Mưa xuống, trong lòng đất là túi nước, và còn gánh thêm sức nặng của thân lá, thì rừng sản xuất vô tình trở thành gánh nặng cho sườn dốc. Đây là nguyên nhân dẫn tới thực trạng, nhiều quả đồi có rừng và nhiều quả đồi không có rừng cũng bị sạt lở.

GS Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng cho biết, rừng tự nhiên là “lá chắn” để giữ nước, giữ đất, giữ môi trường vì có tán cây, các lớp cây khác nhau, có thảm mục, hệ rễ sâu. Do vậy, nếu một cơn mưa bình thường với lượng mưa khoảng 100 mm kéo dài 1-2 giờ, thì không có nước chảy trên mặt, hết cơn mưa là mặt đất gần như không có nước, toàn bộ lượng nước trở thành nước ngầm, còn rừng trồng chỉ có tác dụng thấm nước bằng một phần năm rừng tự nhiên. Rừng cũng phát huy hiệu quả trong việc chắn gió, góp phần làm suy yếu sức gió tại các vùng bão đi qua.

Ngoài do BÐKH, đặc điểm địa lý thì hậu quả của việc phá rừng, diện tích rừng phòng hộ, đầu nguồn ở các tỉnh, thành phố tại miền trung bị san để làm thủy điện, gây khó khăn, làm mất khả năng điều tiết nước ở khu vực thượng nguồn. Mất rừng, lũ lụt xảy ra ở ngay thượng nguồn chứ không phải chỉ hạ lưu.

Ðể bảo vệ được diện tích rừng tự nhiên hiện có, theo các chuyên gia, yêu cầu đặt ra là ngành lâm nghiệp cần nhanh chóng rà soát, xây dựng đề án về khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên. Các địa phương phải đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân suy giảm rừng. Chính quyền các địa phương, các lực lượng ở cơ sở phải quyết liệt hành động, đồng thời có sự hỗ trợ về cơ chế chính sách từ tỉnh và Trung ương, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Mặt khác, từng tỉnh trong khu vực phải xây dựng đề án bảo vệ và phát triển rừng bền vững, đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của chủ rừng, cấp ủy, chính quyền địa phương. Khi sinh kế từ rừng của người dân vững chắc thì họsẽ gắn bó và bảo vệ rừng, góp phần chống BÐKH và phòng, chống thiên tai.

Theo monre.gov.vn

 

There are no comments yet

Tin mới hơn ...