Nhân lực Ngành Tài nguyên và Môi trường trước cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0



TN&MTCách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN) đang trao cơ hội cho Ngành TN&MT phát triển bứt phá, đưa công tác quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững lên một tầm cao mới. Để làm được điều đó, yếu tố con người là quyết định, đòi hỏi nguồn nhân lực của Ngành phải được quan tâm, đào tạo, bồi dưỡng trước yêu cầu của giai đoạn mới.

Ảnh mimh họa

Hiện trạng nguồn nhân lực của Ngành

Thống kê cho thấy, đội ngũ công chức, viên chức và người lao động của Ngành TN&MT ở cấp trung ương có trên 1.000 công chức ở các cơ quan hành chính, hơn 10.000 viên chức, người lao động ở các đơn vị sự nghiệp và ở địa phương có trên 30.000 người (gần 20.000 công chức và 10.000 viên chức, người lao động). Số liệu trên chưa tính đến nhân sự chuyên trách về TN&MT trong các khu công nghiệp, tập đoàn kinh tế Nhà nước, tổng công ty và lực lượng cảnh sát môi trường.

Thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, Bộ TN&MT đã xây dựng và ban hành các chiến lược, quy hoạch phát triển Ngành, các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức 5 năm và hằng năm để triển khai thực hiện công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Ngành TN&MT.

Sau gần hai thập kỷ Bộ TN&MT được thành lập, công tác đào tạo, bồi dưỡng luôn được Ban Cán sự, lãnh đạo Bộ, cấp ủy đảng và các cấp lãnh đạo quan tâm, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, bảo đảm chất lượng nhằm nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho đội ngũ công chức, viên chức của Ngành. Trên cơ sở Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ TN&MT đã xây dựng và ban hành nhiều quy hoạch, chiến lược, đề án nhằm định hướng và là công cụ để tổ chức thực hiện tốt, bài bản công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Ngành TN&MT.

Bộ hiện có 2 trường đại học và 3 viện nghiên cứu đang đào tạo trình độ sau đại học là các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực TN&MT chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý, thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh. Bộ đã thiết lập được mạng lưới một số các cơ sở đào tạo ngành, chuyên ngành TN&MT để tăng cường sự hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ. Ngoài ra, Bộ có Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ TN&MT là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ công chức, viên chức và người lao động trong toàn Ngành từ trung ương đến địa phương. Công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượng là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ quy hoạch và cán bộ trẻ có tiềm năng đã được quan tâm thực hiện. Việc tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đã được thực hiện bài bản, khoa học, tập trung vào các nội dung bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng làm việc cho cán bộ Ngành từ trung ương đến địa phương.

Mặc dù vậy, nguồn nhân lực Ngành TN&MT còn những khó khăn nhất định. Hệ thống văn bản quy định, quản lý về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa có quy định về định mức kinh tế – kỹ thuật trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; nguồn lực đầu tư còn hạn chế; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, phòng học, trang thiết bị phục vụ học tập, giảng dạy. Chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích cán bộ học tập và tự học, để nâng cao trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao.

Cách mạng Công nghiệp 4.0 và xây dựng nguồn nhân lực cho Ngành Tài nguyên và Môi trường

Cuộc CMCN 4.0 là xu hướng hiện tại của tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống mạng vật lý, mạng Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây. Trong điều kiện nước ta, đây là nền tảng để nền kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế tri thức; làm thay đổi cơ bản khái niệm đổi mới công nghệ, trang thiết bị trong các dây chuyền sản xuất. CMCN 4.0 được hình thành trên nền tảng của cuộc cách mạng thứ 3 – cuộc cách mạng kỹ thuật số, sử dụng các thiết bị điện tử, công nghệ thông tin để tự động hóa hơn nửa quá trình sản xuất. CMCN 4.0 không chỉ giới hạn ở tự động hóa, hệ thống thông minh và được kết nối, mà còn bao trùm phạm vi rộng lớn bao gồm các làn sóng phát triển của những đột phá trong các lĩnh vực khác nhau: Từ mã hóa chuỗi gen cho tới công nghệ nano, in 3D, từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử. Nói cách khác, đây là sự dung hợp của các công nghệ này và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực vật lý, số và sinh học.

Theo GS. Klaus Schwab, chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới, CMCN 4.0 hiểu một cách ngắn gọn là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, xu hướng trao đổi dữ liệu, công nghiệp chế tạo và sản xuất thông minh. Theo đó, cuộc cách mạng này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các “nhà máy thông minh” với cấu trúc đa dạng và linh hoạt, tại đó các hệ thống vật lý không gian ảo sẽ giám sát các quá trình, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật lý.

Với Internet của vạn vật , các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực. Sau đó, thông qua Internet của các dịch vụ, người dùng sẽ được tham gia vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này – đồng nghĩa với sự phức tạp của mạng lưới sản xuất và nhà cung cấp sẽ tăng lên rất nhiều. Thông qua việc kết nối, các doanh nghiệp sẽ tạo ra những mạng lưới thông minh trong toàn bộ chuỗi giá trị để có thể kiểm soát lẫn nhau một cách tự động, qua đó giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học.

Để tận dụng tốt thời cơ và vượt qua những nguy cơ, thách thức từ cuộc CMCN 4.0, vấn đề khai thác nguồn lực con người, nhất là xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề đang, đã được đặt ra đối với Việt Nam nói chung, Ngành TN&MT nói riêng.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trước hết cần tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, lãnh đạo các đơn vị về công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng nhân lực Ngành TN&MT. Các đơn vị trực thuộc Bộ tiếp tục xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực của Ngành TN&MT và Đề án Đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ. Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học công nghệ của Ngành TN&MT và thu hút cán bộ có trình độ cao, có tài năng vào làm việc trong Ngành. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích cán bộ Ngành thường xuyên học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý và chuyên môn, nghiệp vụ. Tăng cường hơn nữa việc huy động các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ, tài trợ, các nguồn kinh phí hợp pháp khác và đa dạng hóa các nguồn lực tài chính để thực hiện công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng. Rà soát, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực tiễn lãnh đạo, quản lý, nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà nước; đi sâu vào rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ và tổng kết thực tiễn; chú trọng đến bồi dưỡng kỹ năng mềm, kỹ năng hành chính, kỹ năng chuyên ngành để nâng cao năng lực làm việc; nghiên cứu xây dựng nội dung, chương trình đào tạo dành riêng cho từng đối tượng thống nhất trong phạm vi cả nước.

Tiếp tục xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên, báo cáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng. Xây dựng và triển khai các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng; về đào tạo và nghiên cứu khoa học; tăng cường liên kết với các cơ sở đào tạo đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước; tăng cường phối hợp với các doanh nghiệp, địa phương để thực hiện tốt công tác tư tưởng; tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý TN&MT dành cho lãnh đạo Sở; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức TN&MT; bồi dưỡng cho công chức địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường xã về đất đai và môi trường.

 

ThS. PHAN QUỲNH TRANG – Học viện Chính trị khu vực I

There are no comments yet

Tin mới hơn ...