Nhà phố du lịch sẽ được cấp giấy như thế nào?



TN&MT Để thống nhất việc sử dụng đất, cấp chứng nhận quyền sở hữu đối với một số loại hình bất động sản (BĐS) mới như căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, văn phòng kết hợp lưu trú, mới đây Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã có văn bản số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/2/2020 gửi các Sở TN&MT trong cả nước.

Ông Mai Văn Phấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai của Bộ TN&MT

Để thống nhất việc sử dụng đất, cấp chứng nhận quyền sở hữu đối với một số loại hình bất động sản (BĐS) mới như căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, văn phòng kết hợp lưu trú, mới đây Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã có văn bản số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/2/2020 gửi các Sở TN&MT trong cả nước. Ông Mai Văn Phấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai của Bộ TN&MT đã dành cho Tạp chí TN&MT một số trao đổi xung quanh một số ý kiến còn khác nhau đối với văn bản này.

Phóng viên: Thưa ông, Văn bản số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ra đời đã giải quyết được những vấn đề gì cho việc cấp chứng nhận quyền sở hữu đối với loại hình BĐS căn hộ du lịch, biệt thự du lịch?

Ông Mai Văn Phấn: Trong thời gian qua, các cấp, các ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp đã tích cực, nỗ lực tổ chức thực hiện quy định pháp luật và sự chỉ đạo, điều hành, các giải pháp, chính sách của Chính phủ về thị trường BĐS, nhờ đó mà thị trường BĐS đã dần hồi phục và đang trên đà tăng trưởng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô. Việc đa dạng hóa các loại hình BĐS theo phân khúc thị trường và quảng bá sản phẩm của các nhà đầu tư sơ cấp để thu hút nhà đầu tư thứ cấp vẫn chưa thực sự bền vững, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cơ sở dữ liệu, thông tin về thị trường BĐS từ khâu quy hoạch, lựa chọn nhà đầu tư, thực hiện dự án đến giao dịch BĐS. Việc tham chiếu các loại hình BĐS do các nhà đầu tư sơ cấp quảng bá sang các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan như: Pháp luật về đầu tư, pháp luật về đất đai, pháp luật về xây dựng, pháp luật về du lịch, pháp luật về kinh doanh BĐS… để áp dụng khi các bên tham gia giao dịch thực hiện thủ tục hành chính ở nhiều nơi chưa thực sự thống nhất.

Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ của Bộ TN&MT là văn bản hướng dẫn cụ thể về các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến loại hình bất động sản này nhằm giải quyết một số vấn đề chính như sau:

Cụ thể hóa nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 23/4/2019 về một số giải pháp thúc đẩy thị trường BĐS phát triển lành mạnh.

Thống nhất cách hiểu và áp dụng quy định của pháp luật hiện hành cho công tác cấp giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho đối tượng là người mua (nhà đầu tư thứ cấp).

Thống nhất áp dụng về chế độ sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất (SDĐ) đối với các loại công trình được tạo lập trên đất được giao, cho thuê vào mục đích sản xuất kinh doanh.

Phóng viên: Xin ông cho biết để căn hộ du lịch, biệt thự du lịch được cấp giấy, cần đáp ứng những điều kiện gì?

Ông Mai Văn Phấn: Để chứng nhận quyền sở hữu công trình không phải là nhà ở nói chung, trong đó có các sản phẩm bất động sản là căn hộ du lịch, biệt thự du lịch nói riêng thì cơ quan có thẩm quyền cấp GCN phải xem xét hồ sơ pháp lý của dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; quyết định giao đất, cho thuê đất; giấy phép xây dựng và hồ sơ hoàn công.

Trên cơ sở các điều kiện nói trên, cơ quan có thẩm quyền sẽ đối chiếu với quy định của pháp luật xây dựng, pháp luật về kinh doanh BĐS và các pháp luật khác có liên quan để xem xét, cấp GCN quyền sở hữu công trình, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Phóng viên: Có ý kiến cho rằng, Văn bản số 703/BTNMT-TCQLĐĐ mới chỉ đề cập đến loại hình “căn hộ du lịch, biệt thự du lịch”, chưa nói đến loại hình “nhà phố du lịch”? Xin cho biết ý kiến về vấn đề này?

Ông Mai Văn Phấn: Nguyên tắc của việc cấp GCN được thực hiện căn cứ vào nguồn gốc đất đai hợp pháp (quyết định giao đất, cho thuê đất; quyết định chuyển mục đích SDĐ; công nhận QSDĐ), công trình xây dựng trên đất được tạo lập phải đảm bảo tuân thủ với nguồn gốc đất đai, giấy phép xây dựng và quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng công trình xây dựng theo công năng đã được cấp phép.

Liên quan đến việc chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định cụ thể theo 2 nhóm: (1) công trình xây dựng là nhà ở được tạo lập trên đất ở thì việc cấp GCN theo quy định tại Điều 31 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; (2) công trình xây dựng không phải là nhà ở được tạo lập trên các loại đất khác không phải là đất ở thì việc cấp GCN theo quy định tại Điều 32 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà không phụ thuộc vào tên gọi của từng dự án hoặc công trình.

Như vậy, đối với trường hợp công trình xây dựng không phải là nhà ở được tạo lập hợp pháp trên đất thương mại, dịch vụ (bao gồm cả công trình xây dựng có tên gọi là nhà phố du lịch thì việc cấp GCN đã được hướng dẫn tại Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ).

Trường hợp, công trình xây dựng là nhà ở được tạo lập trên đất ở hợp pháp (bao gồm công trình xây dựng là nhà ở có tên gọi là nhà phố du lịch được sử dụng kết hợp vào mục đích kinh doanh du lịch hoặc mục đích thương mại, dịch vụ khác phù hợp với quy định của pháp luật) thì pháp luật đất đai hiện hành đã có quy định cụ thể về chế độ sử dụng đất (tại các Điều 143, 144 và 145 của Luật Đất đai), thời hạn SDĐ (tại các Điều 125, 126 của Luật Đất đai); việc cấp GCN, trình tự, thủ tục, hồ sơ được quy định tại các Điều 31, 70, 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Điều 8, Điều 9 của Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT.

Trân trọng cảm ơn ông!

 

                                                                                                                                        ĐĂNG TUYÊN (thực hiện)

There are no comments yet

Tin mới hơn ...