NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG: Tiếp tục thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, giải pháp đề ra



TN&MTNăm 2020, năm cuối của giai đoạn 2015-2020, toàn ngành Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có những đóng góp quan trọng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Bước sang năm 2021, năm đầu tiên triển khai nhiệm vụ của giai đoạn 2021 – 2025 với thế và lực mới, toàn Ngành tiếp tục phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra, đưa ngành Tài nguyên và Môi trường phát triển lên tầm cao mới.

Với tinh thần bắt tay ngay vào triển khai công việc, các đồng chí Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thể hiện quyết tâm bằng việc chỉ đạo quyết liệt, cụ thể những vấn đề, nhiệm vụ đặt ra cho năm 2021.

Thứ trưởng NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA: Xây dựng, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đo đạc và bản đồ

Năm 2020 là một năm khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ. Tuy nhiên, những kết quả đạt được của ngành Đo đạc và Bản đồ trong năm qua rất đáng trân trọng và tự hào.

Trong năm 2021, lĩnh vực ĐĐ&BĐ cần tập trung xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật ĐĐ&BĐ nhằm đáp ứng đầy đủ các điều kiện để tiến tới thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở mức độ 4; hoàn thành xây dựng các thông tư của Bộ TN&MT về ban hành danh mục địa danh, dân cư, sơn văn, thủy văn, KT-XH phục vụ công tác thành lập bản đồ địa hình của các địa phương còn lại.

Đối với việc thực hiện các đề án, dự án và các nhiệm vụ chuyên môn, cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ theo Quyết định số 415/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai thi hành Luật ĐĐ&BĐ, trong đó tập trung đi sâu việc bảo đảm chất lượng và tiến độ yêu cầu. Ưu tiên nguồn lực để triển khai 2 dự án “Đầu tư hạ tầng xây dựng cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia phục vụ xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia và Chính phủ điện tử” và “Hiện đại hóa hệ thống độ cao quốc gia phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển KT-XH và ứng phó với BĐKH tại một số thành phố lớn và khu vực ven biển” nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu QLNN của các bộ, ngành, địa phương, phục vụ phát triển KT-XH, đảm bảo QP-AN, phòng chống thiên tai, ứng phó với BĐKH. Đặc biệt, hoàn thành xây dựng Cổng thông tin không gian địa lý Việt Nam và tích hợp dữ liệu khung làm cơ sở để lập đề án xây dựng, vận hành Cổng thông tin không gian địa lý Việt Nam phục vụ chia sẻ, chuyển đổi, phân tích, tích hợp, tra cứu và tải các dữ liệu khung và dữ liệu chuyên ngành.

Chủ động tiếp thu các công nghệ tiên tiến của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 để áp dụng phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam; đề xuất các đề tài KH&CN phù hợp, đáp ứng được nhu cầu phát triển ngành TN&MT thời gian tới. Đặc biệt là phát triển các công nghệ mũi nhọn, mở rộng phạm vi hoạt động về chuyển giao công nghệ, ứng dụng mạnh mẽ các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, nâng cao vị thế của công nghệ ĐĐ&BĐ trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0.

Thứ trưởng VÕ TUẤN NHÂN: Xây dựng kế hoạch triển khai Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020

Bước sang năm 2021, năm đầu tiên và cũng là năm tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2021-2026, Tổng cục Môi trường cần tập trung xây dựng công tác BVMT cụ thể, chi tiết, trên cơ sở xác định rõ những thời cơ và thách thức, khắc phục ngay những tồn tại và hạn chế, phấn đấu hoàn thành tốt yêu cầu nhiệm vụ mà thực tiễn đặt ra. Trong đó, ưu tiên xây dựng Kế hoạch triển khai Luật BVMT năm 2020 cũng như các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành, đảm bảo yêu cầu về chất lượng và đúng tiến độ trình các cấp để Luật có thể nhanh chóng đi vào cuộc sống. Đồng thời, tập trung nguồn lực để xây dựng hành lang pháp lý về quản lý chất thải rắn theo hướng thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước; nghiên cứu xây dựng quy hoạch BVMT quốc gia làm cơ sở phân vùng, định hướng đầu tư, phát triển các ngành kinh tế; rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới.

Thúc đẩy triển khai thực hiện Luật Đa dạng sinh học và các văn bản quản lý về đa dạng sinh học đã được ban hành, đặc biệt trình ban hành được các chiến lược, kế hoạch, đề án BVMT giai đoạn đến năm 2026 và tầm nhìn đến năm 2030.

Tiếp tục phát huy tốt công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT, bảo đảm thanh tra đúng đối tượng, với trọng tâm thanh tra năm 2021 là nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, khí thải, chất thải rắn sinh hoạt. Thanh tra đột xuất đối với các đối tượng có nguy cơ gây ra sự cố môi trường.

Về xử lý chất thải rắn (CTR), cần triển khai thí điểm và nhân rộng các mô hình quản lý tổng hợp CTR; mô hình phân loại tại nguồn, phân loại tập trung rác thải sinh hoạt kết hợp tái chế, thu hồi vật chất, năng lượng từ CTR. Nghiên cứu giải pháp đột phá để xử lý ô nhiễm không khí và rác thải sinh hoạt ở các thành phố lớn.

Tổng cục Môi trường cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống, tạo sự chuyển biến căn bản, mạnh mẽ trong công tác BVMT nước ta trước mắt cũng như lâu dài.

Thứ trưởng TRẦN QUÝ KIÊN: Hướng tới ngành Tài nguyên và Môi trường cơ bản vận hành trên nền tảng số

Ứng dụng CNTT đang là một trong những nhiệm vụ trọng yếu về chuyển đổi số, đổi mới toàn diện Ngành, áp dụng khoa học công nghệ, sáng tạo và thu hút nhân lực chất lượng cao. Đây là cơ sở quan trọng, phương thức mới giúp cho Bộ, ngành, địa phương thực hiện quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn lực TN&MT trong thời gian tới.

Ngành TN&MT trong năm qua đã thực hiện được nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đặt mục tiêu đến năm 2025, toàn ngành TN&MT sử dụng 90% thiết bị sử dụng công nghệ số; 80%-90% công tác dự báo, cảnh báo, giám sát dựa trên phân tích, xử lý, dữ liệu theo thời gian thực, đưa ra quyết định chính xác, kịp thời; 90%- 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau của người dùng; 100% hồ sơ công việc về TN&MT tại cấp bộ, 90% cấp tỉnh, 80% cấp huyện, 60% cấp xã được xử lý hoàn toàn trên môi trường mạng; 100% chế độ báo cáo, thống kê được tích hợp, kết nối phục vụ Bộ, ngành và kết nối, chia sẻ phục vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; 20% GDP đóng góp của thông tin, số liệu, cơ sở dữ liệu TN&MT cho kinh tế số; 50% hoạt động kiểm tra của cơ quan QLNN được thực hiện thông qua hệ thống thông tin; 100% CSDL quốc gia hoàn thành và kết nối, chia sẻ; 80% CSDL chuyên ngành hoàn thành và kết nối, chia sẻ.

Trong bối cảnh đó, việc triển khai CNTT của ngành TN&MT trong thời gian tới cần tập trung vào các nhiệm vụ trọng yếu:

Xây dựng, hoàn thiện thể chế tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai xây dựng, vận hành Chính phủ điện tử, chuyển đổi số toàn diện ngành TN&MT; kiến trúc hệ thống thông tin, quy định kỹ thuật; quy định cung cấp, chia sẻ, sử dụng thông tin, dữ liệu; đơn giá – định mức,…

Xây dựng chương trình chuyển đổi số ngành TN&MT; tạo lập không gian số xóa nhòa khoảng cách và thời gian trong không gian thực; sáng tạo đổi mới; ứng dụng rộng rãi công nghệ, giải pháp của Cách mạng Công nghiệp 4.0;

Triển khai, xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành mang tính chất nền tảng bảo đảm kết nối, chia sẻ sử dụng rộng rãi, thuận lợi phục vụ quản lý điều hành, phục vụ người dân, doanh nghiệp;

Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin dữ liệu trong toàn Ngành và rà soát, sắp xếp tổ chức và huy động các nguồn lực thực hiện.

Thứ trưởng LÊ CÔNG THÀNH: Tập trung trí tuệ, hiện đại hóa công nghệ dự báo, thích ứng biến đổi khí hậu

Năm 2020, Tổng cục KTTV cần tập trung hoàn thiện các văn bản QPPL, đặc biệt 2 đề án của Ngành: Chiến lược phát triển ngành KTTV đến năm 2030 tầm nhìn 2045 và Quy hoạch mạng lưới trạm KTTV quốc gia. “Quán triệt tinh thần đến từng cán bộ, viên chức, đây là giai đoạn có sự đổi mới lớn”. Trong 10 năm vừa qua, tất cả chúng ta đã rất nỗ lực cố gắng cùng nhau xây dựng ngành KTTV từ mạng lưới quan trắc đến dự báo. Cũng chính nhờ vậy, năm 2020 tuy có thiên tai dồn dập thì công tác đo đạc thông tin, dự báo đã được cung cấp kịp thời và được Chính phủ, Thường trực Ban chỉ đạo Phòng chống thiên tai ghi nhận. Tuy nhiên, trong giai đoạn mới, với bài toán và nhu cầu lớn hơn mà xã hội, nhân dân đặt ra thì Ngành cần có sự thay đổi cơ bản hơn nữa từ mạng lưới quan trắc, đầu tư mạng lưới quan trắc dày hơn, kịp thời hơn. Đây là bài toán lớn cần tập trung trí tuệ của toàn ngành KTTV và các đơn vị liên quan. Đẩy nhanh triển khai các chương trình lớn: Tiếp tục hiện đại hóa công nghệ dự báo KTTV, chi tiết hóa các bản tin KTTV nguy hiểm, bản tin càng ít lời, càng nhiều bảng biểu, con số, cụ thể cho từng đối tượng càng tốt. Bản tin dễ sử dụng cho từng đối tượng. Tổ chức lại hệ thống làm việc có các dự báo viên làm việc với người sử dụng bản tin để điều chỉnh bản tin cho phù hợp.

Liên quan đến vấn đề BĐKH, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách và triển khai nhiều hành động quan trọng để thích ứng với những tác động ngày càng gia tăng của BĐKH. Một trong những điểm nổi bật nhất trong năm 2020 là hoàn thành cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (NAP). Về định hướng tiếp theo trong công tác ứng phó BĐKH tại Việt Nam, thích ứng với BĐKH không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước mà cần có sự tham gia đầy đủ, sâu rộng của tất cả các thành phần trong xã hội, đặc biệt là khu vực tư nhân và hỗ trợ quốc tế. Đối với vùng ĐBSCL, bên cạnh nỗ lực thích ứng trong nước cần hợp tác với các quốc gia trong khu vực về chia sẻ, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước, vì sự phát triển bền vững và thịnh vượng chung của các quốc gia. Trong thời gian tới, Việt Nam cần có thêm kế hoạch tổng thể cho các khu vực khác cũng chịu tác động của BĐKH, như khu vực Duyên hải miền Trung và Miền núi phía Bắc.

Thứ trưởng LÊ MINH NGÂN: Tạo chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Tổng cục Biển và Hải đảo (B&HĐ) Việt Nam tập trung tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ của Nghị quyết số 36 – NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết số 26/NQ – CP của Chính phủ; các chương trình, kế hoạch và đề án Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt; tham mưu giúp Bộ thực hiện tốt vai trò Cơ quan thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.

Tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên, BVMT B&HĐ, trong đó trọng tâm là thực hiện 2 nhiệm vụ quy hoạch theo kế hoạch đã được phê duyệt; bám sát việc trình duyệt Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ – CP quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TN,MT B&HĐ; tiếp thu, hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về thế chấp, cho thuê, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển của tổ chức, cá nhân được giao để nuôi trồng thủy sản; hỗ trợ, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi khu vực biển vì mục đích QP-AN, lợi ích quốc gia, công cộng; Nghị định quy định về hoạt động lấn biển; Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, BVMT B&HĐ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục tăng cường công tác QLNN về điều tra cơ bản TN, MT B&HĐ, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, bảo đảm số hóa, tích hợp và chia sẻ thông tin với các địa phương ven biển. Tập trung xây dựng, trình phê duyệt Đề án phát triển đội tàu khảo sát, nghiên cứu biển.

Tổng cục cần nắm bắt tốt hơn tình hình QLNN lĩnh vực B&HĐ tại các địa phương; tăng cường trao đổi thông tin, hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quản lý tài nguyên, BVMT B&HĐ (giao khu vực biển, cấp phép nhận chìm, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển). Bên cạnh đó, tăng cường kiểm tra các khu vực biển đã giao thực hiện dự án xem chủ đầu tư đã thực hiện nghĩa vụ tài chính chưa? Thực hiện dự án hay bán dự án để xử lý? Hiệu quả dự án để tham mưu giải quyết, xử lý tránh thất thu ngân sách, sử dụng hiệu quả tài nguyên biển.

Đổi mới công tác chỉ đạo điều hành; tăng cường kỷ luật, chấn chỉnh kỷ cương hành chính theo phương châm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân sự của Tổng cục theo tinh thần Nghị định số 101/2020/NĐ – CP và Nghị định số 120/2020/NĐ – CP; tiếp tục đẩy mạnh công tác luân chuyển, bố trí cán bộ theo chủ trương của Đảng, Chính phủ và Ban cán sự đảng Bộ, trọng tâm là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

There are no comments yet

Tin mới hơn ...