Năm 2020, Ngành Tài nguyên và Môi trường thực hiện đồng bộ, hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp



TN&MTCùng nhau hành động, thi đua sáng tạo, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Ngành Tài nguyên và Môi trường - Đó là mong muốn của Bộ trưởng Trần Hồng Hà tại cuộc họp triển khai công tác năm 2020 vào sáng 30/1 (tức mùng 6 Tết Canh Tý).

Bộ trưởng đã biểu dương và gửi lời cảm ơn chân thành tới từng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ở từng vị trí của mình đã cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ, dù nhỏ bé cũng đã góp phần vào thành công chung của Ngành.

Với tinh thần bắt tay ngay vào triển khai công việc, các đồng chí Lãnh đạo Bộ đã thể hiện quyết tâm bằng việc chỉ đạo quyết liệt những vấn đề, nhiệm vụ đặt ra trong năm 2020.


Thứ trưởng Lê Công Thành: Nâng tầm công tác quản lý, phục vụ hiệu quả phòng chống thiên tai

Dưới tác dộng của biến đổi khí hậu (BĐKH), thiên tai xảy ra với cường độ và tần suất ngày càng cao, khó dự báo hơn trước và gây ra thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Do vậy, hiện đại hoá Ngành Khí tượng Thủy văn (KTTV), nâng cao vị thế, vai trò của Ngành có ý nghĩa rất quan trọng trong giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) bền vững.

Để nâng cao chất lượng hoạt động của Ngành Khí tượng Thủy văn đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, trong năm 2020, cần lưu ý một số trọng tâm sau:

Tăng cường công tác QLNN lĩnh vực KTTV, với kế hoạch xây dựng thể chế của Tổng cục, khẩn trương triển khai các đề án, chính sách lớn trong lĩnh vực KTTV. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra các hoạt động KTTV chuyên dùng. Trong công tác này, cần chú ý phối kết hợp đồng bộ với phổ biến, tuyên truyền, đưa chính sách, pháp luật về KTTV đi vào thực tiễn của xã hội, người dân, doanh nghiệp.

Tăng cường theo dõi chặt chẽ, sát diễn biến các hiện tượng KTTV, đặc biệt là các hiện tượng KTTV nguy hiểm. Theo dõi chặt chẽ và dự báo kịp thời, sát diễn biến các hiện tượng KTTV nguy hiểm như: ATNĐ, bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt, nước dâng, nắng nóng, hạn hán, rét hại, sương muối; cung cấp kịp thời các bản tin dự báo, cảnh báo KTTV cho các cơ quan, ban ngành trung ương, địa phương, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo PCTT.

Tập trung hiện đại hoá, tự động hoá trong đo đạc quan trắc phục vụ dự báo, thực hiện xã hội hoá trong phát triển mạng lưới quan trắc KTTV và tăng nguồn số liệu đo mưa, gió tự động phục vụ dự báo PCTT. Quản lý chặt chẽ hoạt động của mạng lưới trạm KTTV trên toàn quốc; chỉ đạo xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trên mạng lưới nhằm đảm bảo chất lượng điều tra cơ bản về KTTV. Xây dựng hệ thống dữ liệu KTTV tự động, dữ liệu quan trắc truyền thống và dữ liệu hồ chứa lưu trữ vào 1 cơ sở dữ liệu chung phục vụ công tác dự báo. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng khoa học, ứng dụng các công nghệ mới “Công nghệ 4.0”: IOT (Internet vạn vật), trí tuệ nhân tạo, các công nghệ khai thác dữ liệu lớn (Bigdata)… Hiện nay, hệ thống thông tin chuyên ngành chưa đồng bộ, còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt công tác an toàn, bảo mật thông tin.

Bên cạnh việc chú trọng các hoạt động chuyên môn KTTV, cần tăng cường truyền thông về hoạt động KTTV, chủ động phối hợp với các cơ quan, địa phương, cộng đồng để chủ động nắm bắt, cung cấp thông tin kịp thời các bản tin, thông tin dự báo, cảnh báo. Đồng thời, tạo sự tương tác thường xuyên, liên tục với các cơ quan truyền thông trong việc chuyển tải các hoạt động KTTV tới cộng đồng, người dân.

  

Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa: Phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0

Cùng với sự phát triển của đất nước, Ngành Đo đạc và Bản đồ (ĐĐ&BĐ) nước ta ngày càng phát triển, cả về tổ chức, lực lượng và tiềm lực khoa học – kỹ thuật với đội ngũ hàng vạn cán bộ, công chức, viên chức, lao động, hàng nghìn tổ chức, doanh nghiệp với thiết bị, công nghệ hiện đại, bảo đảm cung cấp, đáp ứng mọi yêu cầu về thông tin dữ liệu ĐĐ&BĐ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.

Những kết quả đạt được của Ngành trong những năm qua rất đáng trân trọng và tự hào. Tuy vậy, công tác ĐĐ&BĐ nước ta còn những bất cập, yếu kém. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hạ tầng kỹ thuật, chất lượng và sự đa dạng của dữ liệu, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học công nghệ (KHCN), ĐĐ&BĐ có phần tụt hậu so với các nước tiên tiến trong khu vực, chưa thực sự đáp ứng kịp thời, chính xác yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bảo vệ của đất nước; nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, toàn cầu hoá và khu vực có những phức tạp về chính trị như hiện nay. Do đó, để có sự phát triển bứt phá trong thời gian tới, Cục Đo đạc, bản đồ và Thông tin địa lý (ĐĐ, BĐ&TTĐL) Việt Nam cần tập trung giải quyết các vấn đề cụ thể sau:
Thứ nhất, trên cơ sở Luật ĐĐ&BĐ, trong thời gian sớm nhất cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ĐĐ&BĐ; kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới đảm bảo sự thống nhất, đầy đủ, phù hợp với pháp luật có liên quan. Cục ĐĐ, BĐ&TTĐL Việt Nam phải coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất trong việc thực hiện kế hoạch hàng năm.

Thứ hai, Cục ĐĐ, BĐ&TTĐL Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương và các đơn vị có liên quan để sớm hoàn thành dự thảo Chiến lược phát triển Ngành ĐĐ&BĐ Việt Nam, Hạ tầng không gian địa lý quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 trình Chính phủ phê duyệt trong Quý III năm 2020. Nội dung Chiến lược cần xác định các nội dung ưu tiên và lâu dài, phù hợp với Nghị quyết số 52 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Thứ ba, hiện đại hoá hạ tầng đo đạc, nâng cao chất lượng sản phẩm ĐĐ&BĐ phục vụ quản lý, giám sát tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Cần tranh thủ nguồn lực, kiến thức KHCN tiên tiến, đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng KHCN ĐĐ&BĐ của các nước trong khu vực và thế giới. Đặc biệt là trong việc xây dựng Hạ tầng không gian địa lý quốc gia bảo đảm cung cấp dữ liệu không gian địa lý kịp thời, chính xác phục vụ Chính phủ điện tử, Chính phủ số, xã hội số. Nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin, dữ liệu ĐĐ&BĐ.

Thứ tư, xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ KHCN có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ để định hướng, tổ chức, làm “tổng công trình sư” các nhiệm vụ lớn của Ngành, làm công tác biên giới và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ĐĐ&BĐ.

Thứ năm, Cục ĐĐ, BĐ&TTĐL Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương có liên quan để đảm bảo công tác kỹ thuật phục vụ công tác đàm phán, giúp đẩy nhanh tiến độ hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Campuchia; chuẩn bị các điều kiện nhân lực, kỹ thuật phục vụ phân định ranh giới trên biển với các quốc gia trong khu vực, góp phần ổn định tình hình chính trị và tăng cường hợp tác phát triển trong khu vực.

Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân: Chủ động kiểm soát nguồn xả thải, tạo chuyển biến căn bản về bảo vệ môi trường

Bước sang năm 2020, năm quyết định kết quả của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) giai đoạn 2016 – 2020, chúng ta phải có những hành động quyết liệt, những giải pháp mang tính đột phá, chủ động để kiểm soát nguồn xả thải, tạo sự chuyển biến căn bản để đạt được các mục tiêu đề ra, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ BVMT mà Đảng, Chính phủ đã nêu rõ tại nghị quyết phát triển KT-XH năm 2020, đó là “Kết hợp công tác BVMT hài hoà với phát triển KT-XH. Kiểm soát chặt chẽ nguồn xả thải; giảm thiểu rác thải nhựa; thu gom, tái chế chất thải rắn; đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp và người dân; xử lý nghiêm các hành vi gây ONMT; khuyến khích, thúc đẩy ngành công nghiệp môi trường; từng bước xây dựng nền kinh tế tuần hoàn”. Khối lượng công việc đặt ra là rất lớn, đòi hỏi Tổng cục Môi trường phải triển khai quyết liệt với kế hoạch cụ thể, có tiến độ rõ ràng và sự theo dõi, kiểm tra, đánh giá thường xuyên hơn.

Tập trung cao độ vào nghiên cứu, sửa đổi Luật BVMT, bảo đảm yêu cầu về chất lượng, tiến độ trình Quốc hội thông qua. Song song với đó, Tổng cục chủ động xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật để trình Chính phủ ban hành ngay sau khi Luật có hiệu lực thi hành. Đồng thời, tập trung nguồn lực xây dựng hành lang pháp lý về quản lý chất thải rắn theo hướng thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước; nghiên cứu xây dựng quy hoạch BVMT quốc gia làm cơ sở phân vùng, định hướng đầu tư, phát triển các ngành kinh tế; rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới.
Thúc đẩy triển khai Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) và các văn bản quản lý về ĐDSH đã được ban hành, đặc biệt là Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Nghị định số 66/2019/NĐ- CP về Bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ngập nuớc.

Thực hiện đúng tiến độ và chất lượng các nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ giao; chủ động báo cáo Lãnh đạo Bộ theo tiến độ để kịp thời chỉ đạo. Chú trọng công tác kế hoạch – tài chính, bảo đảm tiến độ phê duyệt, giải ngân các dự án, nhiệm vụ.
Chủ động nắm bắt thông tin, tham mưu kịp thời cho Lãnh đạo Bộ các giải pháp để xử lý các vụ việc môi trường nóng, mới phát sinh được dư luận và báo chí phản ánh.
Tiếp tục thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT; tăng cường các hoạt động thanh tra đột xuất; thực hiện thanh tra đến đâu, ban hành kết luận đến đó theo quy định; xử lý nghiêm, có tính răn đe đối với các hành vi vi phạm, đồng thời kịp thời tháo gỡ vướng mắc về chính sách, pháp luật, giúp các địa phương làm tốt công tác QLNN. Trong đó, Tổng cục cần chỉ đạo, rà soát đối tượng thanh tra, kiểm tra bảo đảm đưa vào kế hoạch các đối tượng có nguy cơ cao gây ONMT, sự cố môi trường. Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng các đoàn thanh tra, kiểm tra về BVMT.
Tiếp tục duy trì hoạt động, phát huy hiệu quả của “Đường dây nóng“ tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ONMT của trung ương và địa phương; tập trung đẩy mạnh, làm tốt hơn việc tiếp nhận, xác minh và xử lý các thông tin.

Thứ trưởng Trần Quý Kiên: Tạo đột phá trong quản lý tài nguyên môi trường biển

Năm 2019, Tổng cục Biển và Hải đảo (B&HĐ) Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ TN&MT, các nhiệm vụ đột xuất, phát sinh, trong đó có nhiều kết quả nổi bật như: Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án, nhiệm vụ, đặc biệt là công tác giao khu vực biển, cấp phép nhận chìm ở biển thực hiện đã đi vào nền nếp, bảo đảm tuân thủ các quy định hiện hành, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các tổ chức, địa phương có biển trong việc xử lý các hồ sơ giao khu vực biển để nhận chìm. Những kết quả đó đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển trên cả nước, nâng cao vị thế của Tổng cục và Bộ TN&MT.

Năm 2020 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, Tổng cục B&HĐ Việt Nam phải nắm bắt cơ hội để bứt phá, phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề quan trọng thực hiện tốt các đề án, dự án trong kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW để hiện thực hóa chủ trương lớn, quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương. Đồng thời, cần tập trung vào việc thực hiện: Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, “xương sống”; Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường B&HĐ đến năm 2030 và Đề án tăng cường năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác quản lý tổng hợp và điều tra cơ bản TN&MT B&HĐ đến năm 2030. Bên cạnh đó, Tổng cục cần tiếp tục tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm như:

Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường B&HĐ, nhằm tháo gỡ vướng mắc, thống nhất giữa các quy định pháp luật về quản lý về B&HĐ.

Đổi mới, kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy về B&HĐ từ trung ương đến địa phương; nghiên cứu cơ chế quản lý theo cục, vùng để đảm bảo cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả.

Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về TN&MT B&HĐ, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về TN&MT, hoàn thiện quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường B&HĐ để làm căn cứ pháp lý xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực B&HĐ. Năm 2020, tập trung tổ chức thành công 3 hội nghị: Diễn đàn đối thoại chính sách Biển Việt Nam – Nhật Bản; Diễn đàn cấp Bộ trưởng về “Kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu”; Hội nghị đặc biệt cấp Bộ trưởng ASEAN về tăng cường điều phối và hợp tác môi trường biển.

Để thực hiện thành công nhiệm vụ trong năm 2020, Tổng cục B&HĐ Việt Nam cần thực hiện các giải pháp chủ yếu như: Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý; tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao chất lượng tham mưu về công tác kế hoạch – tài chính; chú trọng chất lượng công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức; nâng cao chất lượng tham mưu, rà soát, xây dựng, hoàn thiện thể chế; tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, hoàn thiện các quy định quản lý hoạt động khoa học – công nghệ; nâng cao hiệu quả công tác văn phòng và đẩy mạnh công tác phối hợp, thông tin tuyên truyền.

There are no comments yet

Tin mới hơn ...