Lũ quét, sạt lở đất ở miền Trung: Tìm giải pháp giảm thiểu



TN&MT Diễn biến phức tạp của thời tiết ở Việt Nam và đặc biệt các tỉnh miền Trung thời gian qua đòi hỏi sự nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp giảm thiểu để từ đó hình thành và hoàn thiện kịch bản ứng phó mới cho các địa phương.

Tại Quảng Nam, Tổng hội Xây dựng Việt Nam vừa phối hợp với UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức Hội thảo “Thiên tai lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền Trung – nguyên nhân và giải pháp giảm thiểu”.

Hội thảo quy tụ nhiều nhà khoa học nhằm tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm từ thực tiễn phòng, chống thiên tai của chính quyền địa phương các cấp, phân tích các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia trong lĩnh vực địa hình, địa chất, địa chất thủy văn. Trên cơ sở đó tìm hiểu nguyên nhân gây lũ quét, sạt lở đất để biết được những vùng có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất, làm cơ sở cho quy hoạch dân cư và quy hoạch phát triển kinh tế của địa phương, đồng thời giới thiệu các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo trong dự báo.

Theo Tổng cục Phòng chống thiên tai, năm 2020, miền Trung hứng chịu thiên tai bão, lũ liên tiếp xảy ra trên diện rộng, với thời gian kéo dài, cường độ rất mạnh, vượt mức lịch sử. Đặc biệt, nhiều vụ sạt lở đất rất nghiêm trọng tại: Thủy điện Rào Trăng 3, Trạm Kiểm lâm số 67 (tỉnh Thừa Thiên – Huế); Đoàn Kinh tế Quốc phòng 337 (tỉnh Quảng Trị); Trà Leng và Trà Vân, huyện Nam Trà My và Phước Lộc, huyện Phước Sơn (tỉnh Quảng Nam)… cướp đi sinh mạng của hàng trăm người dân và hàng chục cán bộ, chiến sĩ. Sạt lở đất và lũ quét gây thiệt hại ước tính trên 30 nghìn tỷ đồng.

 Thiên tai, lũ quét gây thiệt hại nặng nề tại các tỉnh, thành miền Trung

Tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học nhận định thiên tai, lũ quét bất thường xảy ra ở miền Trung thời gian qua là tổ hợp của các nguyên nhân như mưa cường độ lớn, tập trung trong thời gian ngắn. Bên cạnh đó, các tỉnh thành miền Trung có địa hình độ dốc cao, chia cắt mạnh, kết cấu đất là bở rời, dễ sạt trượt. Ngoài ra, việc xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế, hạ tầng đã làm thay đổi dòng chảy cũng là nguyên nhân gây xói lở, sạt lở đất. Trong khi đó, công tác ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu trong phòng chống thiên tai còn hạn chế đặc biệt với lũ quét, sạt lở đất. Các cấp chính quyền địa phương mới chỉ chú trọng ứng phó khi thiên tai xảy ra. Đồng thời, chưa thực hiện lồng ghép phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế xã hội, xây dựng công trình nên còn xảy ra sự cố khi thiên tai lớn.

Để chủ động giảm thiểu rủi ro, thiệt hại do bão, lũ quét sạt lở đất, các chuyên gia, nhà khoa học đưa ra các giải pháp tập trung xây dựng chiến lược phòng, chống thiên tai quốc gia, xây dựng quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch dân cư, khu vực có nguy cơ xảy ra thiên tai, nhất là bão, lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt. Đồng thời, quản lý và bảo vệ thật tốt rứng tự nhiên, tiếp tục trồng, tái sinh rừng phòng hộ đầu nguồn; kiểm soát chặt chẽ việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ phát triển; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ theo dõi, vệ tinh, công nghệ Al,IOT, WSN… giám sát, dự báo, cảnh báo, xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm hỗ trợ xây dựng các kịch bản, phương án ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai…

Miền Trung bàn giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng lũ quét, sạt lở

TS. Hoàng Ngọc Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Trung và Tây Nguyên cho rằng, công tác dự báo về lũ quét và sạt lở đất rất khó, kể cả trên thế giới bởi đây là một loại thiên tai xảy ra do tổ hợp của nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Trong đó, các yếu tố độ dốc, địa mạo, lượng mưa, địa chất công trình, thảm phủ thực vật rừng, xây dựng cơ sở hạ tầng là các yếu tố chính. Hiện nay cách tiếp cận của thế giới và Việt Nam chủ yếu là cảnh báo các nguy cơ để hỗ trợ các cấp chính quyền và người dân phòng chống thiên tai.

Theo TS Tuấn, những năm qua công tác phòng chống thiên tai từ cấp TW đến địa phương đã có sự kịp thời. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần tăng cường nâng cao nhận thức, đào tạo và hướng dẫn cho người dân, nhất là ở vùng cao những kiến thức cơ bản về thiên tai, lấy người dân làm trung tâm trong công tác phòng chống thiên tai. Thứ hai, cần nghiên cứu xây dựng bản đồ nguy cơ sạt lở đất và xác định các điểm có nguy cơ xảy ra sạt lở đất tại Quảng Nam cần thực hiện theo nhiều bước. Cụ thể, xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở theo nhiều yếu tố như độ dốc, lượng mưa, địa chất thủy văn, địa chất công trình, thảm phủ và xây dựng bản đồ nguy cơ sạt lở cho toàn tỉnh.

“Trong thời gian tới, chúng ta cần phải xem xét lồng ghép xem thiên tai bất thường thành thiên tai bình thường để có những tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn đối với vùng miền núi. Vấn đề này phải được các cơ quan nhà nước thẩm định thì mới có thể thực hiện được. Chẳng hạn những tiêu chuẩn liên quan đến nhà ở của người dân ở vùng núi với những đánh giá về mức độ, an toàn, sạt lở trên cơ sở dữ liệu tin cậy dựa trên khảo sát địa hình, địa chất, khí tượng thủy văn”, TS Tuấn nêu giải pháp.

Theo monre.gov.vn

There are no comments yet

Tin mới hơn ...