Giải pháp thúc đẩy thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh ở Việt Nam



TN&MTLà nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BĐKH), Việt Nam xác định phương thức Tăng trưởng xanh (TTX) là mục tiêu cho phát triển bền vững đất nước và thực hiện cam kết với cộng đồng quốc tế cùng chung tay ứng phó với BĐKH.

Đồng thời, đó cũng là cơ hội nâng cao đời sống cho người dân thông qua việc tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế và góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và tiếp tục theo đuổi thành công mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

Việt Nam tiếp cận Tăng trưởng xanh theo hướng bền vững

Tăng trưởng xanh được hiểu là “chiến lược thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thông qua tăng cường đầu tư vào đổi mới công nghệ, vốn tự nhiên, công cụ kinh tế, từ đó góp phần bảo vệ môi trường (BVMT), ứng phó với BĐKH, giảm nghèo và bảo đảm phát triển kinh tế bền vững”.

Nhận thức được vai trò của TTX, ngay từ năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia về TTX. Trong đó, xác định, TTX là cách thức phát triển phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế giai đoạn 2011-2020, bảo đảm mục tiêu quan trọng là: “TTX, tiến tới nền kinh tế các-bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội”.

Từ chiến lược, nội hàm TTX từng bước đã được thể chế qua các nghị quyết của Đảng, Quốc hội cho tới các nghị định, thông tư trong nhiều lĩnh vực cụ thể. Nổi bật trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về TTX là Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT, với nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng TTX và PTBV. Đây là Nghị quyết tạo tiền đề cho hàng loạt những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số luật liên quan tới TTX, như: Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Luật Phòng chống thiên tai; Luật BVMT; Luật Khí tượng thủy văn và những điều chỉnh trong nhiều chiến lược quốc gia, chương trình quốc gia nhằm thúc đẩy thực hiện Chiến lược TTX một cách hiệu quả.

Thực tiễn triển khai thực hiện Chiến lược TTX đến nay đã đạt được nhiều kết quả tích cực từ xây dựng cơ chế, chính sách đến nhận thức của cộng đồng về TTX:

Một là, bước đầu hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho việc triển khai thực hiện TTX, cụ thể:
Trong lĩnh vực công nghiệp: Quy hoạch tổng thể Ngành Điện, các nhà máy điện; quy hoạch tổng thể các ngành, phân ngành công nghiệp, đặc biệt là những phân ngành và cơ sở tác động mạnh tới môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm và phát triển ngành bền vững, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải một cách hiệu quả. Đặc biệt, đã xây dựng Chiến lược Phát triển Năng lượng tái tạo ở Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050; xây dựng khung pháp lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất và đời sống; tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu và dán nhãn năng lượng cho các sản phẩm tư liệu sản xuất và thiết bị tiêu dùng.

Trong lĩnh vực nông nghiệp: Đã ban hành Luật Thủy lợi, Luật Thủy sản, Luật Lâm nghiệp và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và quy định tiêu chuẩn “xanh” cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đã được ban hành, ứng dụng và mang lại hiệu quả thực tế cho sản xuất, kinh doanh.

Trong lĩnh vực xây dựng: Ngành Xây dựng đã ban hành Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong sản xuất xi măng đến năm 2020 và định hướng đến 2030; Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia giai đoạn 2009 – 2020; Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch phát triển đô thị TTX Việt Nam đến năm 2030; Quy định về chỉ tiêu xây dựng đô thị TTX.

Trong lĩnh vực giao thông vận tải: Hưởng ứng Chiến lược TTX, cùng với các bộ, ngành, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Kế hoạch hành động giảm phát thải khí CO2 trong hoạt động hàng không dân dụng Việt Nam giai đoạn 2016-2020.

Hai là, xây dựng kế hoạch hành động TTX. Các hoạt động hoàn thiện thể chế và triển khai thực hiện Chiến lược TTX được thực hiện thông qua việc xây dựng và ban hành kế hoạch hành động TTX ở các bộ và địa phương. Thống kê cho thấy, đến hết năm 2019, có 7 bộ đã ban hành Kế hoạch hành động TTX. Đến nay, cả nước có 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động TTX cấp tỉnh, thành phố.

Ba là, thực hiện giảm cường độ phát thải khí nhà kính và tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo. Cho đến nay, việc triển khai các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính đã được triển khai rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực. Theo Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), giai đoạn 2011 – 2015, tỷ lệ năng lượng tiết kiệm của nước ta đạt 5,65%, tương đương với tổng năng lượng tiết kiệm được gần 11,3 triệu tấn dầu quy đổi (TOE). Trong đó, cường độ năng lượng của các ngành sản xuất công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng đều giảm dần, như: Ngành Thép giảm 8,09%; xi măng giảm 6,33%; dệt sợi giảm 7,32%.

Bốn là, tăng cường hoạt động xanh hóa sản xuất. Nội dung của xanh hóa sản xuất là thực hiện một chiến lược “công nghiệp hóa sạch” thông qua việc rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, trang thiết bị đảm bảo nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên, tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm.

Nhiều khó khăn, thách thức đặt ra

Thực tế triển khai TTX vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào việc khai thác TNTN, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn lớn; ô nhiễm môi trường (ONMT) ngày càng trở nên nghiêm trọng; đặc biệt là những tác động tiêu cực của BĐKH. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy: Tổng thiệt hại kinh tế của nước ta trong thời gian qua do ONMT gây ra tối thiểu từ 1,5% – 3% GDP. Ngoài ra, mỗi năm Việt Nam còn phải chịu thiệt hại hơn 780 triệu USD trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng vì ONMT. Những thách thức này do nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất, nhận thức của một số bộ, ngành và chính quyền địa phương về Chiến lược TTX chưa rõ ràng. Theo kết quả khảo soát, đến đầu năm 2019, mới có 7 bộ, ngành và 34/63 tỉnh, thành ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược TTX. Điều đó cho thấy, việc cụ thể hóa chiến lược TTX quốc gia chưa phải là một nhiệm vụ bắt buộc cần ưu tiên thực hiện ở bộ, ngành và địa phương.

Thứ hai, các dự án mà các bộ, ngành, địa phương đã, đang thực hiện liên quan đến Chiến lược quốc gia về TTX đều dựa trên sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ, chưa xuất phát từ năng lực nội sinh của bộ, ngành, địa phương.

Thứ ba, hiện nay, có sự xung đột, trùng lặp về mục tiêu giữa các chiến lược: Chiến lược PTBV; Chiến lược quốc gia về ứng phó BĐKH; Chiến lược TTX.

Thứ tư, nguồn lực thực hiện Chiến lược TTX chưa rõ ràng, đặc biệt trong bối cảnh suy giảm kinh tế và cắt giảm đầu tư công.

Thứ năm, dù việc áp dụng, lồng ghép Chiến lược TTX vào các kế hoạch, chương trình phát triển KT-XH tại địa phương đã đạt được một số thành tựu nhất định, song nhiều địa phương đang đối mặt với không ít thách thức, do thiếu các nhóm giải pháp cụ thể và chưa thật sự khả thi đối với hoàn cảnh cụ thể của địa phương.

Giải pháp thúc đẩy thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh

Để đẩy mạnh thực hiện Chiến lược TTX, thời gian tới cần tập trung các nội dung sau:

Một là, hoàn thiện khung chính sách, trong đó ưu tiên hoàn thiện và ban hành bộ chỉ tiêu đo lường TTX cấp quốc gia của Việt Nam. Cần bổ sung một số chỉ tiêu TTX vào hệ thống chỉ tiêu phát triển KT-XH. Chuẩn bị sẵn sàng để hoàn thiện và áp dụng bộ chỉ tiêu TTX vào xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2021-2025).

Hai là, hoàn thiện khung chính sách tài chính TTX. Xây dựng khung chính sách phân bổ và quản lý ngân sách quốc gia phục vụ thực hiện Chiến lược TTX. Bên cạnh đó, hoàn thiện khung chính sách tài chính (thuế, phí, trợ giá, các quỹ, chế tài, các tiêu chí xanh, PTBV với doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán) liên quan tới thúc đẩy thực hiện Chiến lược TTX; xây dựng cơ chế hỗ trợ tư nhân chuẩn bị và thực hiện dự án TTX.

Ba là, nghiên cứu ban hành các định mức, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật xanh. Cùng với đó, các ngành và địa phương tiếp tục xây dựng lộ trình cụ thể các hoạt động TTX và triển khai thực hiện, nhằm hoàn thành những mục tiêu đề ra vào năm 2020; nâng cao nhận thức về TTX cho các cấp lãnh đạo ở các cơ quan quản lý Nhà nước, các ngành, địa phương và khu vực doanh nghiệp.

Thứ tư, thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân, nguồn đầu tư nhà nước và ODA sẽ là chất xúc tác để thu hút, hình thành môi trường thuận lợi cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực BĐKH, TTX (dưới hình thức chuyển đổi công nghệ, dự án thí điểm, nghiên cứu điển hình); giới thiệu các mô hình hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, sản xuất điện.

Thứ năm, những hoạt động thuộc Kế hoạch Hành động về TTX cần được triển khai đồng bộ và phù hợp với các nội dung về: Nâng cao nhận thức; hoàn thiện thể chế; thay đổi cơ cấu kinh tế ngành, địa phương và doanh nghiệp và đổi mới công nghệ.

Thứ sáu, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng; giảm tiêu hao năng lượng trong sản xuất, vận tải, thương mại; từng bước thay đổi cơ cấu nhiên liệu trong sản xuất công nghiệp và giao thông, như: Sử dụng nguồn năng lượng mới, sạch, tái tạo, ít phát thải khí nhà kính; giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững bằng cách chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng; tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp.

Với nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, với định hướng triển khai thực hiện có chủ đích rõ ràng, TTX của Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào công cuộc tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 với tầm ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống, TTX tiếp tục vừa là mục tiêu, vừa là phương pháp tiếp cận để tận dụng triệt để các hiệu ứng tích cực, góp phần tạo nên những đột phá trong việc triển khai thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

 

TS. MAI VĂN TIẾN – Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

There are no comments yet

Tin mới hơn ...