Ghi nhận những thành tựu về công tác nghiên cứu, điều tra tài nguyên môi trường biển ở nước ta



TN&MTCông tác nghiên cứu, điều tra tài nguyên, môi trường biển ở Việt Nam đã trải qua các giai đoạn lịch sử và đạt nhiều kết quả tích cực, bước đầu đã triển khai ở các vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề.

Nhân sự kiện Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam năm nay, phóng viên Tạp chí Tài nguyên và Môi trường đã có cuộc trò chuyện với ông Trịnh Nguyên Tính, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên – môi trường biển khu vực phía Bắc về lịch sử của công tác điều tra và những kết quả của điều tra cơ bản ở từng giai đoạn.

Ông Trịnh Nguyên Tính, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên – môi trường biển khu vực phía Bắc

Phóng viên: Công tác nghiên cứu, điều tra tài nguyên và môi trường biển có vai trò quan trọng, ở nước ta nhiệm vụ này đã được thể hiện như thế nào thưa ông?

Ông Trịnh Nguyên Tính: Nhận thức rõ về vị trí chiến lược của biển, hải đảo đối với kinh tế và AN-QP của đất nước, Đảng và Nhà nước đã sớm có những chủ trương, chính sách đúng đắn và nhất quán qua các thời kỳ về điều tra cơ bản và quản lý TN,MT biển và hải đảo. Ngày 01/3/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg, về việc phê duyệt “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý TN, MT biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” . Ngày 09/02/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW, về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, khẳng định tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển nước ta có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển KT-XH, BVMT và củng cố AN-QP quốc gia.

Tiếp theo, từ năm 2010 đến năm 2013, Chính phủ ban hành 3 quyết định bổ sung nhiều dự án vào Đề án tổng thể. Ngày 25/6/2015, Quốc hội đã thông qua Luật TN, MT biển và hải đảo và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Luật ra đời đã đánh dấu một bước quan trọng trong công tác quản lý tổng hợp và thống nhất biển và hải đảo.

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) đã ra Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/QĐ-TTg ngày 07/01/2020 Phê duyệt Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản TN,MT biển và hải đảo đến năm 2030 với mục tiêu “Đến năm 2030, tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được khảo sát, điều tra, phân tích, đánh giá về TN,MT biển và hải đảo ở tỉ lệ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn đối với một số khu vực trọng điểm”.

Tổng cục trưởng Tổng cục biển và Hải đảo Việt Nam Tạ Đình Thi ( đứng thứ 5 từ trái sang) thăm chụp ảnh lưu niệm trên tàu địa vật lý biển

Phóng viên: Nhiệm vụ khảo sát được thay đổi theo thời gian, xin ông chia sẻ những thành tựu qua mỗi giai đoạn cụ thể?

Ông Trịnh Nguyên Tính: Trải qua nhiều giai đoạn, thay đổi theo thời gian, tôi điểm lại một số giai đoạn cụ thể như sau:

Giai đoạn trước năm 1954: Từ những năm đầu Thế kỷ XX, sau khi Pháp thành lập Viện Nghề cá Đông Dương (nay là Viện Hải dương học) đã tiến hành khảo sát dọc ven biển Việt Nam trên tàu De Lanessen phục vụ cho công tác khai thác nguồn lợi hải sản.

Các hoạt động nghiên cứu khoa học ở khu vực Biển Đông chủ yếu do các cơ quan như Viện Hải dương học Woods Hole, Trạm nghiên cứu Lamont – Doherty Earth Observatory (LDEO), Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ (NOA A), Cục nghiên cứu Địa vật lý Nhật Bản, Cơ quan nghiên cứu Thuỷ văn Anh,tiến hành đo các yếu tố khí tượng thuỷ văn (KTTV), đo sâu hồi âm và lấy mẫu chất đáy, đo từ trường, trọng lực và địa chấn.

Năm 1943, Shepard lần đầu tiên lập sơ đồ phân bố trầm tích tầng mặt rìa Tây Thái Bình Dương tỉ lệ 1/6.000.000 trong đó có thềm lục địa Việt Nam.

Từ năm 1935 đến năm 1951, hải quân Hoa Kỳ tiến hành các cuộc khảo sát nhằm thành lập hải đồ quần đảo Trường Sa.

Giai đoạn 1954-1975: Các hoạt động điều tra nghiên cứu biển được tiến hành ở các quy mô khác nhau với sự hợp tác của nước ngoài và tổ chức quốc tế có liên quan trên phạm vi những khu vực riêng biệt. Các công trình nghiên cứu của Pháp về Biển Đông đã được thay thế và bổ sung bởi các công trình của các nhà khoa học khác trên thế giới mà điển hình là các nhà hải quân Hoa Kỳ (F.P. Shepard, K.O. Emery và N.R. Gould, 1949). Họ đã lập bản đồ đáy biển trong đó đã có những nghiên cứu đầu tiên về sự phân bố trầm tích tầng mặt và đá gốc lộ ra trên bề mặt đáy Biển Đông phía Nam Việt Nam.

Từ năm 1954 – 1975, Viện Hải dương học là thành viên của Ủy ban Hải dương học liên chính phủ (IOC), tham gia một số chương trình nghiên cứu biển và hải dương học do nước ngoài thực hiện như Chương trình điều tra NAGA (1959-1961), khảo sát nghề cá xa bờ miền Nam Việt Nam (1968-1971), Hoạt động điều tra vùng biển Việt Nam của Hải quân Hoa Kỳ, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam.

Giai đoạn sau 1975: Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Nhà nước đẩy mạnh điều tra nghiên cứu biển nhằm tăng cường sự hiểu biết và xây dựng cơ sở tư liệu về biển phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH và bảo vệ chủ quyền, bảo đảm AN-QP trên vùng biển và thềm lục địa nước ta. Trong mỗi kế hoạch 5 năm, Nhà nước cho xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp Nhà nước. Từ năm 1977 đến 2020, đã thực hiện 12 Chương trình. Kết quả thu được những kết quả quan trọng, giúp nâng cao sự hiểu biết về biển nước ta so với sự hiểu biết vốn có trước đây. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào hoạt động các ngành kinh tế, AN-QP và thúc đầy tiềm lực khoa học biển nước ta.

Bước đầu có được tư liệu toàn diện hơn để hiểu biết được rõ ràng hơn về những điều kiện tự nhiên chủ yếu của biển Việt Nam và Biển Đông trên phạm vi toàn vùng biển và thềm lục địa: Về KTTV và động lực biển, về địa chất – địa vật lý biển, về sinh học sinh thái biển;

Có được những kết quả nghiên cứu chuyên đề, nâng cao sự hiểu biết về một số hiện tượng, quá trình đặc trưng của vùng biển nhiệt đới, có ý nghĩa quan trọng đối với việc khai thác và bảo vệ TNMT biển nước ta;

Có được những kết quả mới điều tra phát hiện và đánh giá một số tài nguyên quan trọng của nước ta cho tới nay còn ít hoặc chưa nghiên cứu đầy đủ: Về nguồn lợi cá biển, về tài nguyên khoáng sản, về tài nguyên du lịch biển.
Phục vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc: Đã có những kết quả nghiên cứu quan trọng để xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất các phương án tối ưu về ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam, xác định đường cơ sở phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982) và với thông lệ quốc tế, không gây phản ứng quốc tế;

Những tư liệu mới được bổ sung và chuẩn hóa đặc biệt là về địa hình đáy biển, bờ biển, tài nguyên, hải sản đã được sử dụng làm cơ sở hoạch định biên giới quốc gia trên biển trước hết là ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan.
Phục vụ xây dựng công trình biển: Thiết kế kỹ thuật xây dựng công trình chống xói lở bờ đảo được áp dụng có hiệu quả ở nhiều đảo thuộc quần đảo Trường Sa; tham số kỹ thuật cho xây dựng công trình biển trên thềm lục địa, áp dụng cho các giàn khoan dầu khí, cho các công trình quốc phòng; luận chứng kinh tế kỹ thuật cho việc xây dựng, bảo vệ đê biển ở một số nơi trọng yếu.

Phục vụ dự báo nguồn lợi, thiên tai: Xây dựng được các quy trình dự báo nghiệp vụ nước dâng trong bão, dự báo sóng trên toàn vùng biển, dự báo lan truyền ô nhiễm dầu do sự cố trên biển, dự báo nhiệt độ nước biển tầng mặt, dự báo sương mù trên biển.

 Lãnh đạo Trung tâm trao phần thưởng và chụp ảnh lưu niệm với Đoàn khảo sát địa vật lý biển.

Phóng viên: Được biết, việc điều tra trên biển rất đặc thù, nhiều khó khăn cần có sự hợp tác quốc tế. Để đạt được hiệu quả nhất định như trên, nước ta đã có các chương trình hợp tác quốc tế như thế nào và giai đoạn nào được đánh giá là hiệu quả nhất thưa ông?

Ông Trịnh Nguyên Tính: Một số hợp tác nổi bật với Liên Xô (1980-1990), với Chương trình hợp tác giữa tổ chức nghề cá Đông Nam Á và Nhật (SEAFDEC: 1989 – 2000), với Phillipin (1996-2008), với Đại học Pari VI (1993), với Cộng hòa Liên bang Đức (2003-2005, 2007-2010), Liên bang Nga (2019). Tuy nhiên, mật độ trạm nghiên cứu còn thưa, chỉ đạt khoảng 1 trạm/ 1.000km2 biển Việt Nam.

Nhiều số liệu, mẫu vật phía Việt Nam không được tiếp cận sử dụng, khai thác do chúng ta chỉ tham gia vào việc hợp tác bằng cách cử người tham gia trên các chuyến tàu khảo sát, nghiên cứu khoa học do đối tác nước ngoài tổ chức thực hiện bằng nguồn kinh phí của phía nước ngoài. Thành công nhất của những hợp tác này chính là việc đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cho các nhà khoa học cũng như các bài báo công bố khoa học trên các tạp chí có uy tín trên Thế giới.

Giai đoạn 1991-2012, là giai đoạn có nhiều kết quả ấn tượng nhất trong công tác điều tra địa chất – khoáng sản biển. Dựa vào 2 lý do: Thứ nhất, chúng ta đã hoàn thành các dự án điều tra tại vùng biển độ sâu 0-100m nước; thứ hai, đây là giai đoạn chúng ta có kết quả điều tra cụ thể về một số loại khoáng sản vùng biển nông (sa khoáng, vật liệu xây dựng).

Trong giai đoạn tiếp theo, đối tượng điều tra mang tính tổng hợp đa dạng hơn phục vụ đa ngành, nội dung điều tra sa khoáng ít có ý nghĩa hơn để tập trung cho điều tra các loại tài nguyên mới ở vùng biển sâu, xa bờ, trang thiết bị đòi hỏi hiện đại hơn, điều kiện thi công khó khăn, phức tạp hơn. Tôi thiết nghĩ sau khi hoàn thành công tác điều tra cơ bản vùng biển đến độ sâu 2.500m nước chúng ta sẽ có đánh giá những thành tựu chính xác hơn.

Từ năm 1991 đến 2013, Nhà nước đã tổ chức thực hiện điều tra cơ bản về địa chất – khoáng sản vùng biển 0-100m nước ở các tỷ lệ với tổng diện tích hơn 247.000 km2 (chiếm khoảng 24% diện tích biển Việt Nam). Trong đó: Từ 1991-2000 đã tiến hành điều tra hơn 97.000 km2 vùng biển ven bờ Việt Nam (độ sâu 0-30m nước) tỷ lệ 1/500.000; từ 2008 đến 2012 hoàn thành công tác điều tra khảo sát trên diện tích hơn 147.000 km2 vùng biển Việt Nam độ sâu 30-100m nước và khoảng 3.000 km2 vùng biển Trường Sa-DKI ở tỷ lệ 1/500.000. Ngoài ra, chúng ta đã hoàn thành điều tra cơ bản về địa chất – khoáng sản biển ở tỷ lệ 1:100.000 trên diện tích hơn 22.700 km2 đối với các vùng trọng điểm:

Về đặc điểm địa chất – khoáng sản: Vùng biển ven bờ 0-30m nước Nam Trung Bộ, diện tích khảo sát: 9.750 km2 (tỷ lệ 1:100.000) và ~ 390 km2 (tỷ lệ 1:50.000).

Về QP-AN: Vùng biển Hải Phòng – Quảng Ninh (diện tích 4.600km2), Bạch Long Vỹ (diện tích ~ 350 km2 tỷ lệ 1/50.000).

Về vật liệu xây dựng đáy biển phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế biển của địa phương: Vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng (diện tích hơn 5.500 km2).

Về phục vụ khẳng định chủ quyền của Việt Nam: Đã điều tra cơ bản 3.000 km2 về địa hình, địa chất công trình ở tỷ lệ trung bình (1:100.000) vùng biển Trường Sa – DKI và 148km2 vùng biển quanh các đảo Trường Sa Lớn, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn (tỷ lệ 1:10.000) và các bãi ngầm khu vực DKI (tỷ lệ 1:10.000) phục vụ các nhiệm vụ kinh tế kỹ thuật và tăng cường QP-AN trên biển và thềm lục địa Việt Nam. Tuy diện tích điều tra không lớn, nhưng kết quả thực hiện đạt được có ý nghĩa khoa học và chính trị hết sức quan trọng, đặc biệt trong thời điểm tình hình an ninh trên Biển Đông hết sức căng thẳng và phức tạp.

Từ năm 2013 đến nay, Nhà nước tiếp tục tổ chức tiến hành điều tra cơ bản ở tỷ lệ 1/100.000 tại vùng biển Thừa Thiên Huế – Bình Định (kết thúc năm 2016) và điều tra cơ bản ở tỷ lệ 1/500.000 ở vùng biển độ sâu trên 100m nước đến 2.500m nước. Nếu được cấp đủ kinh phí theo yêu cầu, đến năm 2025 khoảng 50% diện tích các vùng biển của Việt Nam sẽ có số liệu điều tra cơ bản TN,MT biển ở tỷ lệ 1/500.000, đạt được một trong những mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 36-NQ/TW đối với công tác điều tra cơ bản TN,MT biển của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trân trọng cảm ơn ông!..

                                                                                                                                             Hồng Minh (thực hiện)

There are no comments yet

Tin mới hơn ...