Ghi nhận bước đầu trong thực hiện nhiệm vụ thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển



TN&MT Một trong những chế định quan trọng, lần đầu tiên được quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam là quy định về hành lang bảo vệ bờ biển. Đây là nội dung được quy định tại Điều 79, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Hành lang bảo vệ bờ biển là vùng đệm quan trọng bảo vệ bảo vệ môi trường biển, giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Những chế tài cụ thể

Theo quy định của Luật, hành lang bảo vệ bờ biển (HLBVBB) là dải đất ven biển được thiết lập ở những khu vực cần bảo vệ hệ sinh thái (HST), duy trì giá trị dịch vụ của HST và cảnh quan tự nhiên ở vùng bờ; giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với BĐKH và nước biển dâng; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển (khoản 1, Điều 23).

Sạt lở bờ biển ở nhiều nơi

Kể từ thời điểm Luật được công bố, giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ TN&MT cho đến khi HLBVBB được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ một số các trường hợp cụ thể đã được quy định tại Điều 79. Khi HLBVBB được thiết lập, các hành vi sau phải được nghiêm cấm:

Cụ thể, khai thác khoáng sản, trừ trường hợp đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận; xây dựng mới, mở rộng công trình xây dựng, trừ công trình phục vụ mục đích QP-AN, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với BĐKH và nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa và các công trình xây dựng khác phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu Bộ, cơ quan Trung ương, HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư.

Xây dựng mới nghĩa trang, bãi chôn lấp chất thải. Khoan, đào, đắp trong HLBVBB, trừ hoạt động quy định tại Điều 25 của Luật này. Lấn chiếm, sử dụng trái phép HLBVBB. Hoạt động làm sạt lở bờ biển, suy thoái HST vùng bờ, suy giảm giá trị dịch vụ của HST và cảnh quan tự nhiên. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định, trong HLBVBB, hạn chế các hoạt động: Khai thác nước dưới đất; khai hoang, lấn biển; cải tạo công trình đã xây dựng; thăm dò khoáng sản, dầu khí; hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ làm suy thoái HST vùng bờ, suy giảm giá trị dịch vụ của HST và cảnh quan tự nhiên.

Ghi nhận trong thực hiện

Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (gọi tắt là Tổng cục), hiện đã có một số tỉnh, thành phố gồm: Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bến Tre, Sóc Trăng đã phê duyệt Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB là cơ sở để thiết lập HLBVBB; trong đó Bình Định thực hiện có hiệu quả công tác thiết lập HLBVBB, được người dân và dư luận đánh giá cao.

Có 6/28 tỉnh, thành phố đang hoàn thiện Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB gồm: Nam Định, Quảng Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu, Trà Vinh, Cà Mau, Kiên Giang; 15/28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển đã và đang triển khai các dự án về thiết lập HLBVBB, nhưng chưa hoàn thiện để lấy ý kiến Bộ TN&MT và các bộ, ngành liên quan về dự thảo Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB.

Theo quy định của Luật TN,MT B&HĐ và Nghị định số 40/2016/NĐ-CP, Tổng cục đã tham mưu Bộ TN&MT ban hành 18 văn bản về góp ý dự thảo Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB đối với 12 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển gồm: Nam Định, Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Cà Mau. Từ đó, các tỉnh, thành phố đã kịp thời tiếp thu, bổ sung, chỉnh sửa và quyết định công bố các danh mục phải thiết lập HLBVBB.

Luật TN,MT B&HĐ và các văn bản hướng dẫn được ban hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển thực hiện nhiệm vụ thiết lập HLBVBB. Việc thiết lập HLBVBB được cấp ủy, chính quyền và nhân dân nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện, cụ thể: Bình Định đã thực hiện có hiệu quả công tác thiết lập HLBVBB được cấp ủy và nhân dân, dư luận đánh giá cao về HLBVBB. Công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của Luật TN,MT B&HĐ, trong đó có quy định về thiết lập HLBVBB được quan tâm thực hiện và đạt được những kết quả bước đầu, dẫn đến tác động tích cực góp phần lập lại trật tự việc sử dụng các vùng đất ven biển, ven đảo nhằm bảo đảm hài hòa giữa phát triển KT-XH với nhiệm vụ bảo đảm QP-AN, bảo vệ TN,MT B&HĐ, bảo vệ quyền tiếp cận của người dân đối với biển.

Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển

Thiết lập HLBVBB là một nhiệm vụ mới và khó, do vậy công tác hướng dẫn triển khai, thực hiện đã gặp phải những bất cập. Một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển, chưa có sự quan tâm đúng mức trong công tác phổ biến, triển khai, thực hiện các quy định của Luật TN,MT B&HĐ, nhất là về tầm quan trọng của việc thiết lập HLBVBB, do vậy việc phê duyệt dự án thiết lập HLBVBB và bố trí nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để thiết lập HLBVBB còn chậm và chưa đạt yêu cầu.

Cơ sở thông tin, dữ liệu về B&HĐ chưa đầy đủ và chưa được cập nhật thường xuyên, do vậy ảnh hưởng đến việc khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác thiết lập HLBVBB. Năng lực tham vấn chuyên môn ở một số địa phương có biển còn nhiều hạn chế, chưa nắm chắc các quy định về thiết lập HLBVBB được quy định trong Luật TN,MT B&HĐ, Nghị định số 40/2016/NĐ-CP,Thông tư số 29/2016/TT-BTNMT, dẫn tới việc triển khai thực hiện thiết lập HLBVBB chưa đúng quy trình.

Công tác phối hợp trong quá trình lập, thẩm định phê duyệt, triển khai các dự án thiết lập HLBVBB với một số các đơn vị còn hạn chế. Một số tỉnh, thành phố như: Phú Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu, trong quá trình thực hiện thiết lập HLBVBB chưa thực hiện đầy đủ về công tác điều tra, khảo sát hiện trạng vùng bờ, lấy ý kiến người dân và thực hiện chưa đúng quy trình việc lấy ý kiến góp ý của các bộ, ngành liên quan, dẫn đến ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện, chất lượng các Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB, tiến hành thực hiện khâu xác định chiều rộng gặp nhiều vướng mắc.

Một số đơn vị tư vấn trong và ngoài Bộ được tỉnh, thành phố ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ lập Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB, quá trình thực hiện lúng túng; năng lực chuyên môn hạn chế, dẫn đến việc thực hiện các Dự án về thiết lập HLBVBB chậm, chất lượng công việc chưa đáp ứng yêu cầu. Số lượng cán bộ tham mưu thiếu, cùng thời điểm phải giải quyết nhiều công việc nên việc góp ý kiến dự thảo Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB do các tỉnh, thành phố gửi đến xin ý kiến chậm, chất lượng nghiên cứu, góp ý chưa cao.

Nguyên nhân do một số địa phương trong quá trình triển khai thực hiện chưa thực sự quan tâm đúng mức khi phê duyệt bố trí ngân sách cho nhiệm vụ thiết lập HLBVBB; tâm lý e ngại khi triển khai thiết lập HLBVBB sẽ làm cản trở sự phát triển KT-XH của tỉnh; một số tỉnh, thành phố đã công bố Danh mục các khu vực phải thiết lập HLBVBB phải điều chỉnh, làm đi làm lại mất thời gian, dẫn đến chậm tiến độ thực hiện.

Công tác tuyên truyền, nghiên cứu thực hiện Luật TN,MT B&HĐ còn hạn chế, công tác phối hợp giữa các cơ quan trong tỉnh, thành phố có liên quan chưa chặt chẽ, dẫn đến việc cung cấp cơ sở dữ liệu còn thiếu, làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng danh mục về thiết lập HLBVBB. Một số đơn vị tư vấn thực hiện Dự án về thiết lập HLBVBB chưa có kinh nghiệm nên việc tổ chức thực hiện lúng túng, hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu.

Được biết, các địa phương có biển đang đẩy nhanh tiến độ thiết lập HLBVBB. Đây là việc làm có tính cấp bách khắc phục tình trạng chậm trễ trong việc thiết lập HLBVBB theo quy định trong Luật TN,MT B&HĐ. Bộ TN&MT ưu tiên nguồn kinh phí cụ thể cho việc thanh kiểm tra việc thiết lập HLBVBB trong thời gian tới; đồng thời nhất trí với đề xuất tăng cường tuyên truyền về vấn đề thiết lập HLBVBB trng các hội nghị, hội thảo, chương trình phổ biến pháp luật.

Năm 2020, tập trung chỉ đạo các đơn vị có liên quan rà soát Luật TN,MT B&HĐ, Nghị định số 40/2015/NĐ-CP, Thông tư số 29/2016/TT-BTNMT trong đó có các quy định về HLBVBB, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về TN,MT B&HĐ.

                                                                                                 DƯƠNG VĂN THÁI 

                                                                                                 Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

There are no comments yet

Tin mới hơn ...