Dấu ấn của Ngành Tài nguyên và Môi trường năm 2020



TN&MTNăm 2020, toàn ngành Tài nguyên và Môi trường đã chủ động, sáng tạo, trách nhiệm cao để từng bước chuyển hóa thách thức thành cơ hội, tháo gỡ rào cản, giải phóng nguồn lực tài nguyên cho phát triển kinh tế - xã hội.

Bộ trưởng Bộ TN&MT  Trần Hồng Hà và Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hầu A Lềnh thực hiện ký kết Chương trình phối hợp 2021 – 2025

Năm 2020, toàn ngành Tài nguyên và Môi trường đã chủ động, sáng tạo, trách nhiệm cao để từng bước chuyển hóa thách thức thành cơ hội, tháo gỡ rào cản, giải phóng nguồn lực tài nguyên cho phát triển kinh tế – xã hội. Ngành đã chủ động tham mưu để Đảng và Nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách mang tầm chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Dấu ấn của Ngành thể hiện rõ trên 8 điểm nhấn sau đây:

Kiến tạo thể chế, chính sách, pháp luật để xóa bỏ rào cản, khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng các nguồn lực tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu cho phát triển bền vững: Trước yêu cầu phát triển của đất nước, kiến nghị, nguyện vọng của nhân dân, ngay năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm 2016-2020, toàn Ngành đã rà soát, đánh giá thực tiễn, xác định nút thắt, điểm nghẽn, khoảng trống của chính sách, pháp luật (CS, PL) để trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền các quy định, nhất là về quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư, giao khu vực biển, đấu giá khoáng sản, quản lý tài nguyên nước. Thiết lập hành lang pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên biển đảo, KTTV, ứng phó với BĐKH, đo đạc bản đồ, viễn thám,…

Tập trung xây dựng hạ tầng thông tin, quan trắc, dự báo; phát triển Chính phủ điện tử và thực hiện chuyển đổi số Ngành: Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử được thúc đẩy trên các nền tảng số hóa và dữ liệu lớn. Đưa vào sử dụng 63 trạm định vị vệ tinh phục vụ các hoạt động KT-XH. Xây dựng Trung tâm dữ liệu vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cơ sở dữ liệu (CSDL) nền địa lý, bản đồ địa hình quốc gia; CSDL viễn thám, siêu dữ liệu viễn thám quốc gia; CSDL quốc gia về quan trắc TN&MT; đưa vào sử dụng CSDL đất đai ở 192 quận, huyện thị xã.

Công tác chỉ đạo điều hành được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng thông qua trục liên thông văn bản, hệ thống điều hành, hệ thống thông tin báo cáo kết nối từ trung ương đến địa phương. Thiết lập trung tâm điều hành thông minh, đảm bảo hoạt động chỉ đạo điều hành thông suốt trong thời gian giãn cách xã hội; tổ chức các hội nghị, diễn đàn của Liên hợp quốc, cuộc họp, đàm phán với đối tác quốc tế theo hình thức trực tuyến.

Sớm về đích hoàn thành chỉ tiêu cải cách hành chính; tăng cường năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ gắn tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính: Thực hiện đơn giản hóa 80,1% TTHC, bãi bỏ, thay thế 62,6% điều kiện đầu tư kinh doanh, rà soát cắt giảm 50% số mặt hàng thuộc danh mục kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm 1/3-1/2 thời gian thực hiện thủ tục khi thực hiện các quyền của người SDĐ, thủ tục về môi trường, qua đó góp phần tiết kiệm khoảng 1.047 tỷ đồng/năm. Các quy trình giải quyết thủ tục được đơn giản hóa, rõ trách nhiệm của từng khâu, đơn vị; thực hiện cung cấp dịch vụ công mức độ 3, 4 đối với 100% TTHC, trong đó 50,9% thủ tục ở cấp độ 4.

Tại địa phương, CCHC với nhiều giải pháp hiệu quả, liên thông thủ tục, rút ngắn thời gian, đáp ứng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Trung bình mỗi năm, cơ quan TN&MT cấp tỉnh, cấp huyện tiếp nhận và giải quyết hơn 4,5 triệu TTHC. Một số địa phương đã thực hiện dịch vụ công về đất đai trên môi trường điện tử thông qua Cổng dịch vụ công cấp tỉnh như: Đồng Nai, Đà Nẵng, Huế, Long An,… thử nghiệm nền tảng để kết nối tới Cổng dịch vụ công quốc gia để thực hiện đăng ký đất đai, cấp GCN. Nhiều địa phương đã chuyển mô hình cơ quan dịch vụ công như Văn phòng đăng ký đất đai (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Trà Vinh, An Giang, Đắk Nông, Cà Mau, Lâm Đồng,…) theo cơ chế tự chủ hoàn toàn về tài chính, qua đó giảm gánh nặng ngân sách, đảm bảo tái đầu tư cho Ngành.

Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tập trung xử lý các vụ việc có dấu hiệu vi phạm, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc từ thực tiễn: Công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan ở trung ương và địa phương, lực lượng cảnh sát môi trường, không để chồng chéo, trùng lặp về đối tượng thanh tra. Nội dung thanh tra tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc từ thực tiễn vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, chấp hành pháp luật về BVMT trong các dự án đầu tư, khai thác trái phép khoáng sản; tăng cường thanh tra đột xuất. Trong năm, toàn Ngành đã tiến hành 816 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiến nghị thu hồi 4.483 ha đất; phối hợp với các lực lượng như cảnh sát môi trường,… phát hiện xử lý gần 12 nghìn vụ vi phạm môi trường (giảm 4,26% so với năm 2019), xử phạt vi phạm hành chính 76,28 tỷ đồng. Như vậy, trong giai đoạn 2016 – 2020, toàn ngành đã kiến nghị thu hồi gần 22,55 nghìn ha đất, truy thu hơn 444 tỷ đồng, phạt vi phạm hành chính 344 tỷ đồng.

Toàn ngành thực hiện tốt công tác tiếp, giải quyết các kiến nghị của nhân dân. Tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai phức tạp, đông người; qua đó, số lượng đơn thư giảm trung bình 9,0%/năm; khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai đã giảm 38% so với giai đoạn trước.

Quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, phát huy các nguồn tài nguyên trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Giải quyết căn bản các vướng mắc, điểm nghẽn, xung đột về pháp luật để thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển thị trường bất động sản, thúc đẩy dự án đầu tư công. Trình Quốc hội phê duyệt điều chỉnh QHSDĐ 2016-2020 cấp quốc gia, xây dựng, phê duyệt đồng bộ điều chỉnh QH, KHSDĐ cấp tỉnh, cấp huyện. Toàn ngành đã thực hiện tốt quản lý theo quy hoạch; việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ theo quy định của pháp luật.

Hoàn thiện thể chế, triển khai Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước toàn quốc; lập Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tổng hợp các lưu vực sông Hồng – Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, Sê San, Srêpok, Cửu Long thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và 8 lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh còn lại thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tổ chức đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm nguồn nước tại các dòng sông lớn. Triển khai công tác điều tra tìm kiếm nguồn nước phục vụ dân sinh vùng hạn mặn, vùng cao, biên giới, hải đảo; nghiên cứu giải pháp trữ nước cho Đồng bằng sông Cửu Long. Rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh 11 quy trình vận hành liên hồ chứa và kiểm soát chặt chẽ các quy trình vận hành liên hồ chứa nhằm điều tiết nguồn nước chống hạn, giảm lũ, cung cấp điện năng. Xây dựng, đưa vào vận hành hệ thống thông tin giám sát tài nguyên nước; triển khai cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho các tổ chức, cá nhân với tổng số tiền phê duyệt khoảng 10,6 nghìn tỷ đồng.

Cùng với hoàn thiện hành lang pháp lý cho công tác quản lý khoáng sản, toàn Ngành triển khai công tác điều tra cơ bản. Đến nay, hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 cho 70% diện tích phần đất liền lãnh thổ Việt Nam và ở tỷ lệ 1:500.000 đối với khoảng 40% tổng diện tích vùng biển Việt Nam.

Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, khai thác không gắn với yêu cầu BVMT đã cơ bản được khắc phục. Cấp phép thông qua đấu giá quyền khai thác khoáng sản được đẩy mạnh với trên 300 khu vực đấu giá thành công, qua đó đóng góp 5.314 tỷ đồng cho ngân sách, đưa tổng thu ngân sách từ khoáng sản lên hơn 23 nghìn tỷ đồng 5 năm qua.

Hoàn thiện hành lang pháp lý cho quản lý tài nguyên biển, tăng cường công tác nghiên cứu biển, phát huy các lợi thế để đưa nước ta trở thành quốc gia biển mạnh, thịnh vượng, an ninh, an toàn. Tập trung triển khai lập Quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gắn kết phát triển các ngành kinh tế biển với phát triển vùng bờ, kết nối các địa phương không có biển. Đã thành lập hải đồ tỷ lệ 1:200.000 với khoảng 82% diện tích các vùng biển Việt Nam; hoàn thành điều tra địa hình đáy biển khoảng 24,5% diện tích vùng biển Việt Nam ở các tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:50.000.

Xây dựng đồng bộ thể chế chính sách, pháp luật, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động để đưa công tác bảo vệ môi trường trở thành trụ cột phát triển bền vững: Toàn Ngành tập trung rà soát, đánh giá, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế xây dựng trình Quốc hội thông qua Luật BVMT năm 2020. Đây là quyết sách tổng thể, toàn diện, đồng bộ để đưa công tác BVMT trở thành trụ cột của quá trình PTBV. Xây dựng Chiến lược quy hoạch BVMT quốc gia, bảo tồn đa dạng sinh học, tổng thể quan trắc môi trường quốc gia để bảo vệ, phục hồi môi trường sống, bảo vệ sinh thái cho các thế hệ tương lai.

Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom xử lý tại khu vực nội thành, nội thị đạt khoảng 92%, tại khu vực ngoại thành của các đô thị đạt khoảng 66%; nhiều địa phương thực hiện mô hình xử lý rác theo hình thức đốt rác phát điện. Tỷ lệ các khu công nghiệp có hệ thống nước thải tập trung đạt 90%, tăng 12,7% so với năm 2016.

Nâng cao chất lượng dự báo để các bộ, ngành, địa phương chủ động phương án sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai; triển khai thực hiện các hành động, cam kết quốc tế, chủ động nghiên cứu các giải pháp chiến lược để chủ động trong ứng phó với biến đổi khí hậu: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho công tác KTTV, thúc đẩy xã hội hóa, hiện đại hóa hệ thống dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai, mực nước tương ứng với các cấp báo động lũ trên các sông thuộc phạm vi cả nước. Thực hiện cảnh báo bão sớm trước 5 ngày, dự báo, cảnh báo áp thấp nhiệt đới trước 3 ngày. Dự báo, cảnh báo mưa lớn trước 2-3 ngày với độ tin cậy khoảng 75%; cảnh báo rét đậm, rét hại trước 2-3 ngày với độ tin cậy 80 – 90%; cảnh báo lũ trên các sông khu vực miền Trung, Tây Nguyên trước 1-2 ngày, các sông khu vực Bắc Bộ, Nam Bộ trước 3-5 ngày thường đạt 70 – 80%; cảnh báo các đợt nắng nóng diện rộng trước từ 2-3 ngày có độ tin cậy 70%. Trong năm 2019-2020, đã dự báo chính xác các xu thế thời tiết, nhất là tình hình thiếu nước, xâm nhập mặn ở khu vực Trung Bộ và Nam Bộ, qua đó giảm thiệt hại lĩnh vực nông nghiệp chỉ bằng 9,6% so với năm 2016. Cảnh báo, dự báo kịp thời, sát diễn biến của 13 cơn bão và 1 áp thấp nhiệt đới (ATNĐ); 21 đợt không khí lạnh; 13 đợt nắng nóng; 18 đợt mưa lớn trên diện rộng; 17 đợt lũ trên phạm vi cả nước,…

Thiết lập hệ thống CSPL ứng phó với BĐKH; chủ động đề xuất, thúc đẩy triển khai các quyết sách có tính hệ thống, chiến lược về ứng phó với BĐKH. Thông qua Chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH, đã thực hiện được gần 400 hành động chính sách liên quan đến ứng phó với BĐKH. Hoàn thành báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam; xây dựng cơ sở pháp lý hình thành thị trường tín chỉ các – bon, quản lý hoạt động thích ứng với BĐKH.

Thiết lập hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác đo đạc, bản đồ, ứng dụng viễn thám; số hóa hệ thống thông tin địa lý, quản lý chặt chẽ không gian, giám sát lãnh thổ: Trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền hành lang pháp lý đồng bộ cho đo đạc, bản đồ, viễn thám. Hoàn thành việc rà soát hệ thống địa danh, tên gọi các đảo, bãi cạn trên các vùng biển của Việt Nam; đưa vào khai thác hiệu quả mạng lưới trạm định vị vệ tinh quốc gia với độ chính xác cao, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, dữ liệu phục vụ phát triển KT-XH, QP-AN; giám sát tài nguyên, BVMT, phòng chống thiên tai.

ĐĂNG TUYÊN

There are no comments yet

Tin mới hơn ...