BỘ TRƯỞNG BỘ TN&MT TRẦN HỒNG HÀ: “Chuyển hóa khó khăn, giải phóng nguồn lực Tài nguyên và Môi trường phát triển bền vững đất nước”



TN&MT“Năm 2020 là một năm hết sức đặc biệt với thế giới và Việt Nam. Thiên tai dưới tác động của biến đổi khí hậu và sự bùng phát dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển kinh tế - xã hội, làm ngưng trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh; nhiều vấn đề đã trở thành tình trạng khẩn cấp của nhiều quốc gia trên phạm vi toàn cầu.

Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà

Năm 2020 cũng là năm cuối cùng của nhiệm kỳ 2016 – 2020, một nhiệm kỳ không ít khó khăn, thách thức cho công tác quản lý tài nguyên và BVMT. Trong “nguy luôn có cơ”, lúc khó khăn là lúc chúng ta phát huy hơn nữa bản lĩnh, trí tuệ, sức sáng tạo, sức mạnh của toàn Ngành để khắc phục khó khăn, chuyển hóa thách thức, từng bước khẳng định vị thế trong tiến trình phát triển bền vững đất nước. Đó là những chia sẻ sâu sắc của người đứng đầu ngành TN&MT – Bộ trưởng Trần Hồng Hà về những nỗ lực của toàn Ngành để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã giao phó.

Trước thềm Xuân mới Tân Sửu 2021, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà đã có cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí TN&MT.

“Nỗ lực chuyển hóa thách thức, tạo lập nền tảng”,…

Phóng viên: Kính thưa Bộ trưởng, năm 2020 là một năm có nhiều biến cố khép lại một nhiệm kỳ đầy khó khăn thách thức đối với ngành TN&MT, nhưng tất cả đã nỗ lực phấn đấu để vượt qua, đạt nhiều kết quả tích cực. Nhìn lại giai đoạn đặc biệt khó khăn vừa qua, đâu là những điểm sáng nổi bật của Ngành?

Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Chúng ta đã trải qua một nhiệm kỳ không ít khó khăn, thử thách. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, ngành TN&MT đứng trước những khó khăn sóng gió. Các lĩnh vực quản lý của Ngành, đặc biệt môi trường luôn nảy sinh những vấn đề, sự cố bất ngờ. Trong đó, sự cố môi trường biển gây hậu quả nghiêm trọng tại 4 tỉnh miền Trung đặt ra không chỉ thách thức to lớn về đảm bảo an ninh môi trường, sinh kế của người dân, ổn định trật tự xã hội mà còn là bài học lớn đối với cơ quan quản lý. Đất đai luôn đứng đầu trong số các lĩnh vực nóng bỏng, với số lượng các vụ khiếu kiện đông người, phức tạp. Tài nguyên khoáng sản chưa được quản lý một cách chặt chẽ dẫn đến khai thác trái phép, sử dụng thiếu hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát và ô nhiễm môi trường. Cũng trong 5 năm qua, BĐKH đã diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi lĩnh vực, mọi mặt KT-XH ở Việt Nam. Hạn hán diễn ra gay gắt tại các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, xâm nhập mặn nghiêm trọng chưa từng có xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), mưa lũ lịch sử, sạt lở đất nghiêm trọng tại miền Trung gây ra những tổn thất to lớn về người và tài sản của Nhà nước và Nhân dân.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà, Bí thư Tỉnh ủy Chẩu Văn Lâm trồng cây tại Khu di tích Lán Hang Thia, Tuyên Quang

Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự chuyển tiếp từ chủ trương huy động tất cả các nguồn lực cho phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; phát triển kinh tế dựa trên mô hình khai thác, sử dụng triệt để tài nguyên thiên nhiên sang giai đoạn phát triển theo mô hình tăng trưởng bền vững, chú trọng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên, BVMT và chủ động ứng phó với BĐKH.

Thực tế đó đã đặt ngành TN&MT phải quyết tâm, cố gắng gấp đôi; phát huy bản lĩnh, tập trung trí tuệ, đổi mới, sáng tạo; phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp để vừa chủ động hóa giải các thách thức, giải quyết ngay các điểm nghẽn, các vấn đề nảy sinh để đóng góp cho mục tiêu phát triển KT-XH trong giai đoạn 2016-2020, vừa tạo dựng nền tảng để Ngành đóng góp xứng đáng cho mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Với tinh thần kiến tạo, Bộ đã lắng nghe từ thực tiễn, cơ sở, từ đó giải quyết các khó khăn, vướng mắc bằng thể chế để giải phóng, sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài nguyên, môi trường cho phát triển đất nước. Có thể kể đến: Nghị định số 01/2017/NĐ-CP đã tạo cú hích cho đà phục hồi và phát triển của thị trường bất động sản, giải quyết cục máu đông do nợ xấu thế chấp tại các tổ chức tín dụng, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính (TTHC), tạo điều kiện thuận lợi để nông dân linh hoạt hơn trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích ứng với BĐKH và nhu cầu của thị trường. Nghị định số 96/2019/NĐ-CP đã tham mưu đúng đắn về khung giá đất để ổn định kinh tế vĩ mô, giảm thiểu tác động do đại dịch và suy thoái kinh tế toàn cầu; Nghị định số 40/2019/NĐ-CP đã thể chế tư duy chuyển từ bị động sang chủ động trong BVMT; Nghị định số 148/2020/NĐ-CP vừa mới ban hành tiếp tục cởi những nút thắt ở địa phương để thu hút đầu tư phát triển khởi sắc trong năm 2021. Chúng ta cũng đã chủ động đề xuất kịp thời các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19.

Cùng với đó, nhiều chủ trương, chính sách lớn mang tầm chiến lược đã được xây dựng, trình ban hành để giải quyết hài hòa giữa phát triển KT-XH với BVMT, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, chủ động ứng phó với BĐKH cho phát triển bền vững như: Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam; các Kết luận số 36-KL/TW, số 56-KL/TW của Bộ Chính trị; Luật Đo đạc và bản đồ; Luật BVMTnăm 2020 với tư duy, cách tiếp cận đột phá cho công tác BVMT; Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL, thích ứng với BĐKH,…

Sự phối hợp gắn kết, hiệu quả từ trung ương đến địa phương đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ, rộng khắp trong công tác quản lý TN&MT; chuyển từ bị động, bất ngờ sang chủ động.

Các nguồn tài nguyên được quản lý, sử dụng hiệu quả đóng góp cho phát triển KT-XH. Trong 5 năm qua, việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đã đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, xây dựng hạ tầng đồng bộ, đô thị hóa,… tạo ra hiệu quả lớn về KT-XH, đóng góp gần 850 nghìn tỷ đồng vào ngân sách; đưa gần 1 triệu ha đất chưa sử dụng vào sử dụng, đưa độ che phủ rừng lên 42% năm 2020; trong giai đoạn 2016-2020, cấp mới trên 3,3 triệu giấy chứng nhận lần đầu, đưa tỷ lệ diện tích được cấp giấy lên 97,36%. Cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, nâng cao hiệu quả sử dụng đối với 2 triệu ha đất của các công ty nông, lâm nghiệp và triển khai sắp xếp đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh; xử lý thu hồi, yêu cầu đưa vào sử dụng gần 100 nghìn ha đất của các dự án chậm triển khai để mang lại hiệu quả lớn về kinh tế.

Đến nay, đã hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 cho 70% diện tích phần đất liền lãnh thổ Việt Nam, xác định tiềm năng một số loại khoáng sản lớn,… điều tra các giá trị địa chất để UNESCO công nhận 2 công viên địa chất toàn cầu trong 5 năm qua. Cấp phép thông qua đấu giá quyền khai thác khoáng sản được đẩy mạnh, tổng số tiền đã phê duyệt cấp quyền khai thác khoáng sản đạt hơn 23 nghìn tỷ đồng trong 5 năm qua. Khắc phục tình trạng xuất khẩu khoáng sản thô; khai thác khoáng sản không đi đôi với BVMT; thiết lập hành lang pháp lý trong phối hợp xử lý vi phạm trong khai thác thác cát sỏi lòng sông.

Toàn Ngành đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ quy hoạch, quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước để đảm bảo an ninh tài nguyên nước (TNN). Các chương trình xanh hóa các dòng sông đã được khởi động, thúc đẩy. Phê duyệt cấp quyền khai thác TNN đạt khoảng 10,6 nghìn tỷ đồng.

Các lợi thế của vùng biển, ven biển tiếp tục được phát huy, đóng góp 60% GDP của cả nước. Các chương trình, kế hoạch, đề án đã được chuẩn bị, khởi động để thực hiện lộ trình đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Sau sự cố môi trường biển miền Trung, công tác BVMT đã có những chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động, huy động được sự tham gia của toàn xã hội, có tới 84% người dân được hỏi ủng hộ việc không sử dụng túi nilon, cốc, hộp nhựa theo khảo sát của PAPI,… Có thể thấy, chúng ta đã dần dần hình thành văn hóa trong ứng xử với thiên nhiên và BVMT. Phương thức quản lý được đổi mới, chuyển trọng tâm từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa các nguy cơ ô nhiễm môi trường. Vấn đề rác thải đã có lời giải với các mô hình tái chế, tái sử dụng, đốt rác, phát điện thay cho chôn lấp. Bộ đã sớm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch cải thiện môi trường không khí ngay từ năm 2016 và chỉ đạo triển khai thực hiện. Đặc biệt, trong năm 2020 Luật BVMT được thông qua ghi nhận nỗ lực lớn của cả hệ thống trong hoàn thiện chính sách BVMT và chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng vào những thay đổi lớn trong công tác BVMT.

Chất lượng dự báo KTTV đã được nâng cao tiệm cận với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, góp phần giảm thiểu thiệt hại về người và của do thiên tai. Riêng đợt hạn mặn năm 2019-2020, mức độ ảnh hưởng lớn gấp 2-2,5 lần năm 2016 nhưng mức độ thiệt hại giảm 9,6%. Các chủ trương, quyết sách chiến lược nhằm chủ động ứng phó với BĐKH đang được triển khai ở ĐBSCL sẽ tiếp tục được đúc kết, nhân rộng.

Một trong những thành công của ngành TN&MT trong thời gian qua là ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số. Chúng ta đang xây dựng một nguồn tài nguyên số dựa trên nền tảng dữ liệu lớn về đất đai, thông tin địa lý, viễn thám, dữ liệu quan trắc, điều tra cơ bản,… đang hướng tới một ngành kinh tế số mạnh trong phát triển KT-XH, cung cấp nền tảng cho việc chuyển đổi số quốc gia.

Điều cuối cùng, khiến tôi trăn trở từ đầu nhiệm kỳ đó là vấn đề bức xúc của người dân, doanh nghiệp về TTHC, thì đến nay đã có những chuyển biến. Đã thực hiện đơn giản hóa 80,1% TTHC, bãi bỏ, thay thế 62,6% điều kiện đầu tư kinh doanh, rà soát cắt giảm 50% số mặt hàng thuộc danh mục kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm 1/3-1/2 thời gian thực hiện thủ tục khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất, thủ tục về môi trường, qua đó, ước tính góp phần tiết kiệm được khoảng 1.047 tỷ đồng/năm chi phí của người dân, doanh nghiệp. Các quy trình giải quyết thủ tục được đơn giản hóa, đảm bảo khoa học, rõ trách nhiệm của từng khâu, từng đơn vị, cá nhân. Khảo sát của các tổ chức độc lập cho thấy, chỉ số hài lòng về dịch vụ cấp GCN tăng 13% so với năm 2016; chỉ số hài lòng với thủ tục về môi trường tăng 3.08% so với năm 2017; tỷ lệ phản ánh có tiêu cực trong thực hiện thủ tục cấp GCN giảm 34%. Chỉ số Đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản đạt mức 60/190 nước được đánh giá.

Phóng viên: Bên cạnh những điểm sáng, nhiệm kỳ Khóa XII cũng được đánh giá là giai đoạn “khủng hoảng” với Ngành như sự cố Formosa, vụ cháy Nhà máy phích nước Rạng Đông, nguồn nước Sông Đà nhiễm hóa chất, ô nhiễm không khí ở mức báo động,… Bộ trưởng muốn chia sẻ gì sau khi đưa Ngành vượt qua những biến cố đó?

Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Ở giai đoạn đó, chúng tôi tập trung toàn tâm, toàn ý giải quyết các vấn đề, sự vụ xảy ra. Thế nhưng, “trong nguy luôn có cơ”, chúng ta cũng tìm ra những giải pháp, tư duy mới và những hướng đi đúng đắn trong công tác BVMT. Đến nay, chúng ta đã làm chủ công nghệ giám sát, kiểm soát phòng ngừa ô nhiễm, đảm bảo các dự án lớn tiềm ẩn nguy cơ cao được kiểm soát chặt chẽ, hoạt động an toàn, đóng góp cho tăng trưởng.

Chúng ta đã thực hiện hết sức quyết liệt, xem xét lại các chủ trương, chính sách liên quan đến BVMT. Từ đó xác định, muốn thay đổi vấn đề về môi trường phải xuất phát từ việc thay đổi chính sách quản lý, thay đổi từ quy chuẩn, tiêu chuẩn, đến công cụ quản lý một cách chặt chẽ.

Bảo vệ môi trường phải được giải quyết hài hòa trong mối quan hệ với phát triển KT-XH với mục tiêu cao nhất là đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của Nhân dân. Cần phải chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững hơn như: Kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời phải thay đổi nhận thức, ý thức, dần hình thành văn hoá ứng xử đối với thiên nhiên; phải lấy chủ động, phòng ngừa là chính trong BVMT.

Các chính sách cần kiến tạo môi trường pháp lý đầy đủ để người dân, doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong thực hiện trách nhiệm BVMT và chủ thể giám sát công tác BVMT. Huy động các nguồn lực xã hội trong công tác BVMT.

Các quan điểm, tư duy mới này đã được thể chế trong Luật BVMT năm 2020 đã được Quốc hội thông qua. Đây là những quyết sách tổng thể cho công tác BVMT để Nhân dân được quyền sống trong môi trường trong lành, không để bị động, bất ngờ trước các sự cố như vừa qua.

Phóng viên: Một khối lượng công việc rất lớn đã được hoàn thành, với những chỉ số ấn tượng, ghi nhận sự nỗ lực của toàn ngành TN&MT và của cá nhân Bộ trưởng. Tuy nhiên, với vai trò là “tư lệnh Ngành”, Bộ trưởng đã cảm thấy hài lòng với những thành tích đạt được?

Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Là người đứng đầu ngành TN&MT, Ngành với nhiều lĩnh vực rất nóng, liên quan mật thiết đến đời sống của người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn xã hội, tôi còn rất nhiều trăn trở. TN&MT là ngành quản lý có nguồn lực rất lớn cho phát triển kinh tế. Việc giải quyết mối quan hệ giữa các nhu cầu phát triển, bảo vệ, duy trì tài nguyên, nguồn lực cho các thế hệ sau luôn luôn phải được tính toán kỹ càng. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ trong năm 2020 và cả nhiệm kỳ 2016-2020, chúng ta cần nhìn nhận, đánh giá thẳng thắn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới.

Một là, tư duy, lý luận về quản lý TN&BVMT trong cơ chế thị trường chưa được phát triển đầy đủ; chưa hình thành công cụ phân tích, đánh giá phục vụ quá trình hoạch định chính sách, ra quyết định nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó BĐKH với phát triển KT-XH.

Hai là, chất lượng quy hoạch hạn chế, chưa tương xứng với vai trò, định hướng của Nhà nước để thúc đẩy phát triển thuận thiên, phát triển bền vững. Trong quá trình thực hiện quy hoạch, chưa thực hiện tốt vai trò của Nhà nước trong định giá, đền bù và giải quyết lợi ích hài hoà giữa các bên. Chính sách quản lý đất đai còn nhiều bất cập, dẫn đến xung đột lợi ích giữa các bên, tình trạng khiếu kiện dù đã giảm nhưng vẫn còn diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước.

Ba là, TN&MT chưa được quản lý chặt chẽ, chưa có đủ số liệu để lượng hoá, thống kê giám sát, hạch toán và phân bổ hợp lý cho phát triển. Mô hình phát triển còn thiếu bền vững, làm thâm dụng vào tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai, nước và khoáng sản, làm lãng phí nguồn lực của đất nước.

Trong khi nhu cầu sử dụng tài nguyên ngày càng gia tăng để đáp ứng yêu cầu phát triển. Áp lực của tiến trình phát triển lên môi trường ngày càng lớn, việc phục hồi các hệ sinh thái, chất lượng môi trường không thế hoàn thành trong một thời gian ngắn. Môi trường vẫn còn ô nhiễm; môi trường nước, không khí tại nhiều cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất, lưu vực sông không bảo đảm an toàn. Công tác thu gom, xử lý rác thải ở nhiều nơi còn bất cập, dẫn đến khiếu kiện đông người.

Biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng diễn ra khốc liệt khó lường, tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống của người dân và toàn xã hội, trong khi chúng ta còn lúng túng trong việc thực hiện được các giải pháp tổng thể để xử lý, giải quyết vấn đề BĐKH, nhất là các vấn đề mang tính liên ngành, liên vùng.

Người dân và doanh nghiệp đã quan tâm nhiều đến công tác quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH, nhưng vẫn cần có những giải pháp tổng thể, toàn diện và hiệu quả nhằm huy động sự tham gia một cách chủ động, tích cực của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam ngày càng phải thực hiện đầy đủ, trách nhiệm những cam kết với quốc tế, chẳng hạn như Thỏa thuận Paris về BĐKH.

“Giải phóng nguồn lực, thay đổi tư duy bảo vệ môi trường”,…

Phóng viên: Nối tiếp những kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua, xin Bộ trưởng cho biết những nhiệm vụ trọng tâm Ngành TN&MT cần tập trung trong năm 2021 và các năm tiếp theo?

Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Từ bài học kinh nghiệm thực tiễn đã được đúc kết, yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế của thời đại, nội dung về quản lý tài nguyên, BVMT, thích ứng với BĐKH trong dự thảo Văn kiện trình Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định những chủ trương lớn với tầm nhìn thời đại.

Trong đó, nhấn mạnh quan điểm phát triển phải hài hòa giữa KT-XH và môi trường; lấy bảo vệ sức khoẻ Nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, coi đầu tư cho BVMT là đầu tư cho phát triển bền vững. Đặt ra yêu cầu phải chủ động ứng phó với BĐKH trong mối quan hệ toàn cầu, tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững các nguồn lực tài nguyên, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó, lợi ích lâu dài là cơ bản để bảo đảm an ninh tài nguyên. Đánh giá đầy đủ các giá trị tài nguyên, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, đảm bảo công bằng, minh bạch, dân chủ trong tiếp cận các nguồn tài nguyên. Nhiều giải pháp lớn như phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh,… được nhấn mạnh trong Văn kiện lần này.

Để chủ trương của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đi vào thực tiễn cuộc sống, nhiệm vụ trước hết toàn ngành cần tập trung: Thứ nhất, hoàn thiện thể chế ngay từ năm đầu nhiệm kỳ. Tổng kết Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai; Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và Luật Khoáng sản.

Trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền văn bản quy định chi tiết Luật BVMT năm 2020 để có hiệu lực đồng thời với Luật. Thiết lập hàng rào kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn tiệm cận các nước tiên tiến trong khu vực, chủ động phòng ngừa các nguy cơ ô nhiễm trong tiến trình hội nhập; nghiên cứu xây dựng các giải pháp chiến lược để chủ động ứng phó với BĐKH phù hợp với điều kiện của từng vùng.

Xây dựng các quy hoạch quốc gia, quy hoạch ngành đồng bộ, phân bổ hợp lý, phát huy các nguồn lực tài nguyên trong tầm nhìn dài hạn, đảm bảo không gian sinh tồn, sinh thái và không gian phát triển, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với BVMT. Xây dựng chiến lược phát triển các lĩnh vực TN&MT đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để đảm bảo sự chủ động của Việt Nam trong giải quyết các thách thức.

Thứ hai, để phát huy được tiềm năng về tài nguyên số cho phát triển kinh tế số, nâng cao hiệu quả công tác quản lý trong bối cảnh phải tinh gọn bộ máy thì chuyển đổi số sẽ được triển khai trên tất cả các lĩnh vực và toàn Ngành. Trong đó, tập xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng số, dữ liệu số như: Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia và các dữ liệu lớn như quan trắc TN&MT, KTTV, viễn thám, TNN, biển và đại dương.

Tăng cường đầu tư cho quan trắc, điều tra cơ bản; thực hiện quản lý, chỉ đạo điều hành, tác nghiệp trên môi trường mạng dựa trên năng lực phân tích, xử lý dữ liệu lớn minh bạch, hiệu lực, thông minh và hiệu quả. Đẩy mạnh cung cấp dịch vụ định vị chính xác cho các hoạt động KT-XH, quản lý lãnh thổ, triển khai các ứng dụng thông minh; công nghệ viễn thám trong công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, giám sát môi trường.

Thứ ba, để ngành TN&MT trở thành ngành kinh tế quan trọng đóng góp cho phát triển KT-XH, cần giải quyết tốt bài toán quy hoạch để phân bổ hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, huy động nguồn lực tài nguyên, nhất là đất đai để phát triển đất nước, đảm bảo mặt bằng, không gian phát triển cho trước mắt và lâu dài. Hoàn thiện các phương pháp định giá để hạch toán đầy đủ các giá trị tài nguyên, môi trường trong nền kinh tế. Nâng cao chỉ số tiếp cận đất đai, chỉ số “đăng ký đất đai” và “chất lượng quản lý hành chính đất đai”. Chủ động điều tiết thị trường bất động sản theo cơ chế thị trường, quan hệ “cung – cầu” thông qua giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để điều tiết quỹ đất ra thị trường. Thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai. Đẩy mạnh việc sắp xếp, rà soát, đo đạc, lập hồ sơ địa chính, giao đất, cho thuê đất hoặc bàn giao lại cho các địa phương quản lý, sử dụng hiệu quả đối với quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm trường quốc doanh.

Xây dựng chiến lược TNN và đề án đảm bảo an ninh nguồn nước trong điều kiện BĐKH, xâm nhập mặn. Điều hòa, phân bổ nguồn nước cho các mục đích sử dụng nước bằng công cụ quan trắc, giám sát tự động trên cơ sở các quy hoạch và hạn ngạch cấp phép khai thác sử dụng nguồn nước; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động xả thải vào nguồn nước; rà soát, kiểm tra, đôn đốc việc xác định, công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt và các hoạt động trong phạm vi vùng bảo hộ. Đẩy nhanh tiến độ các dự án, chương trình xanh hóa các dòng sông. Thúc đẩy cơ chế chia sẻ TNN xuyên biên giới.

Tổ chức điều tra, đánh giá đầy đủ, thực chất tiềm năng tài nguyên khoáng sản, nhất là khoáng sản ẩn sâu. Điều tra, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, địa chất công trình phục vụ quy hoạch phát triển công trình ngầm, chủ động ứng phó với BĐKH, phòng tránh thiên tai sạt lở, sụt lún, động đất.

Rà soát, đánh giá tổng thể hệ thống chính sách, xây dựng bộ tiêu chí, chỉ tiêu thống kê quốc gia về quản lý vùng biển theo chuẩn mực quốc tế. Tăng cường các hoạt động điều phối trong quản lý tổng hợp TN,MT B&HĐ, nhất là chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, chia sẻ dữ liệu giữa các ngành và với các địa phương ven biển. Nâng cao năng lực, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển đội tàu nghiên cứu biển. Thúc đẩy hợp tác trong BVMT biển, bảo vệ phát triển các hệ sinh thái biển, giải quyết vấn đề rác thải nhựa đại dương.

Thứ tư, để môi trường là một trụ cột của phát triển bền vững cần tập trung triển khai thực hiện tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực thi BVMT, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với BVMT, chú trọng đầu tư trở lại cho môi trường. Thiết lập và triển khai có hiệu quả các cơ chế xã hội hóa nhằm huy động tổng lực sự tham gia của toàn xã hội trên cơ sở kết hợp giữa Nhà nước, các tổ chức, giới khoa học, doanh nghiệp và người dân vào công tác BVMT, bảo đảm nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “người hưởng lợi từ môi trường phải chi trả”.

Thứ năm, với tần suất xuất hiện thiên tai ngày càng khốc liệt, tác động của BĐKH ngày càng khó lường thì yêu cầu hiện đại hóa, đổi mới nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo KTTV phải được quan tâm đầu tư thực hiện sớm. Cùng với đó, rà soát, xây dựng Chiến lược phát triển ngành KTTV đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 phù hợp xu thế phát triển của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo. Theo dõi, giám sát thời tiết, thiên tai KTTV, dự báo, cảnh báo sớm đảm bảo kịp thời, đủ độ tin cậy. Tích hợp bản đồ phân vùng tai biến địa chất, trượt lở với dữ liệu KTTV, lớp phủ thực vật để phân vùng, cảnh báo nguy cơ thiên tai lũ ống, lũ quét, sạt lở chi tiết. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định về cấp độ rủi ro thiên tai phù hợp với đặc điểm thiên tai, điều kiện từng vùng miền. Tập trung nghiên cứu các giải pháp tổng thể ứng phó với BĐKH ở các vùng chịu tác động nhiều, xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng BĐKH. Cập nhật Chiến lược quốc gia về BĐKH cho giai đoạn mới, lồng ghép nội dung BĐKH vào chiến lược, quy hoạch phát triển của quốc gia, địa phương. Xây dựng Đề án phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

Thứ sáu, tiếp tục sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả phù hợp với điều kiện thực tế của Ngành và của địa phương. Tăng cường phối hợp giữa trung ương và địa phương; thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, giám sát việc thực thi các quy định pháp luật, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ để lựa chọn nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; gắn trách nhiệm cụ thể của từng cán bộ công chức theo vị trí việc làm. Phát triển và ứng dụng công nghệ, đặc biệt là thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 vào quản lý, sử dụng TN&MT. Thực hiện cắt giảm đơn giản hóa ít nhất 20% TTHC; phấn đấu mục tiêu cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 đối với 90% TTHC của Ngành đáp ứng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Phóng viên: Kính thưa Bộ trưởng, nhân dịp năm mới Tân Sửu 2021, qua Tạp chí TN&MT, Bộ trưởng có điều gì nhắn gửi tới đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành TN&MT?

Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Tôi muốn khẳng định, những kết quả được ghi nhận trong năm 2020 và cả nhiệm kỳ vừa qua là công sức, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, toàn dân nói chung và của cán bộ, công nhân viên ngành TN&MT nói riêng. Nhân dịp này, tôi muốn nói lời cảm ơn tới các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân cả nước đã đồng hành cùng toàn ngành TN&MT trong công cuộc quản lý tài nguyên, BVMT, phát triển bền vững thời gian qua. Bước sang năm mới Tân Sửu 2021, tôi mong muốn các đơn vị thuộc Ngành tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, không ngừng đổi mới, sáng tạo, nỗ lực vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm.

Thay mặt Lãnh đạo Bộ TN&MT, tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến tất cả cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn Ngành. Chúc một năm mới sức khỏe, thành đạt, thịnh vượng, an khang!

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Minh Đức (thực hiện)

There are no comments yet

Tin mới hơn ...