An ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và quản lý an toàn hồ đập



TN&MTĐoàn Giám sát của Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội làm việc với Bộ TN&MT.

Đó là nội dung chính của buổi làm việc giữa Bộ TN&MT và Đoàn Giám sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội vừa diễn ra tại Hà Nội. Đồng chí Phùng Quốc Hiển – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội tham dự và chủ trì cuộc họp.

Đoàn Giám sát của Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội làm việc với Bộ TN&MT

Thách thức an ninh nguồn nước

Báo cáo tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ TN&MT Lê Công Thành cho biết, Việt Nam có 3.450 sông, suối với chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 33 lưu vực sông (LVS) lớn, liên tỉnh với tổng lượng dòng chảy hằng năm khoảng 830 đến 840 tỷ m3, tập trung chủ yếu ở LVS Cửu Long (khoảng 57%), LVS Hồng – Thái Bình (khoảng 16%), LVS Đồng Nai (khoảng 4%), còn lại ở các LVS khác. Phần lớn các hệ thống sông lớn của Việt Nam đều là các sông xuyên biên giới mà Việt Nam là quốc gia ở hạ nguồn. Tổng lượng nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam khoảng 520 tỷ m3 (chiếm khoảng 63% tổng lượng nước trung bình hằng năm của toàn quốc.

Hiện nay, TNN mùa khô tăng do hầu hết các LVS đã xây dựng các hồ chứa phục vụ mục đích tưới, phát điện và phòng chống lũ. Trung bình, lượng nước mùa khô chiếm 20 – 30% lượng nước cả năm của lưu vực. Khi có thêm dung tích trữ hữu ích trong các hồ thì lượng nước mùa khô tăng đáng kể. Điều này cho thấy, nếu quản lý khai thác tốt các hồ chứa, tình trạng thiếu nước sẽ giảm rõ rệt.

Về hồ chứa, theo thống kê sơ bộ, hiện nay trên địa bàn cả nước có khoảng trên 7.160 hồ chứa thủy lợi, thủy điện, trong đó có 6.660 hồ chứa thủy lợi do Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý (tổng dung tích khoảng 10 tỷ m3), khoảng 500 hồ chứa thủy điện đã đi vào vận hành và khoảng 300 dự án thủy điện đang triển khai xây dựng và chuẩn bị đi vào vận hành do Ngành Công Thương quản lý (tổng dung tích khoảng 60 tỷ m3, chiếm khoảng 85% tổng dung tích các hồ chứa trên cả nước).

Về TNN dưới đất, Việt Nam có tiềm năng khá lớn về nguồn nước dưới đất, nhưng tập trung chủ yếu ở các khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, Đồng bằng Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên. Tổng trữ lượng tiềm năng nước dưới đất trên toàn lãnh thổ ước tính khoảng 63 tỷ m3/năm.

Thứ trưởng Lê Công Thành chỉ rõ 5 thách thức đối với an ninh nguồn nước (ANNN), gồm: Nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài; nguồn nước phân bố không đều theo không gian và thời gian; tác động của phát triển kinh tế – xã hội đến TNN; tác động của BĐKH và quản trị nước. Bên cạnh đó, còn một số tồn tại, bất cập về chính sách trong quản lý nguồn nước, cấp nước cho các mục đích sử dụng và quản lý nguồn nước giữa các ngành. Trong đó, có thể kể đến một số bất cập như: Luật TNN quy định việc quản lý nguồn nước và các hoạt động khai thác sử dụng TNN và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương. Việc quản lý khai thác, sử dụng TNN và bảo vệ nguồn nước nói chung được thực hiện theo quy định của Luật TNN, Luật Bảo vệ môi trường. Việc sản xuất nước sạch, phân phối, tiêu thụ nước sạch lại thực hiện theo quy định của Nghị định về sản xuất, cung cấp nước sạch do Bộ Xây dựng và UBND các cấp chỉ đạo hoặc thêm quy định tại Luật Thủy lợi nếu việc khai thác nước này nằm trong hệ thống công trình thủy lợi. Việc quản lý, giám sát chất lượng nước sạch sau quá trình sản xuất cho đến cấp nước cho các hộ dân được thực hiện theo quy định về Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt của Bộ Y tế. Do vậy, còn nhiều khó khăn, giao thoa trong việc đảm bảo ANNN sinh hoạt. Việc triển khai, đưa luật pháp vào cuộc sống để hình thành, phát huy tinh thần thượng tôn pháp luật, kiến thức, hiểu biết về pháp luật được thông suốt và gắn kết chặt chẽ từ trung ương đến địa phương chưa thực sự triệt để, hiệu quả chưa cao. Cơ chế phối hợp (cả trong xây dựng chính sách và triển khai thực hiện) giữa các bộ, ngành đối với các hoạt động có liên quan đến TNN trên LVS còn chưa đồng bộ và còn giao thoa, chồng lấn nhất là giữa lĩnh vực TNN và lĩnh vực thủy lợi, thủy điện gây lúng túng trong thời gian qua. Bên cạnh đó, công tác lập quy hoạch TNN còn chậm, do đây là một công việc mới, phức tạp, liên quan đến nhiều ngành và nguồn kinh phí bố trí cho công tác này còn chưa đáp ứng được nhu cầu. Việc điều hoà, phân bổ nguồn nước giữa các ngành, địa phương đòi hỏi phải có sự tính toán cụ thể và sự đồng thuận cao, trong khi chưa thành lập được tổ chức LVS; các công trình khai thác, sử dụng nước lớn cho các mục đích khác nhau hầu hết đã được xây dựng hoặc đã được phê duyệt quy hoạch, đang triển khai, do vậy, việc điều chỉnh mục tiêu nhiệm vụ, phân bổ, điều tiết lại khai thác sử dụng nước của các công trình này là hết sức khó khăn và phức tạp.

Trên cơ sở những thách thức và bất cập, tồn tại nêu trên, Bộ TN&MT đề xuất, kiến nghị giải pháp như: Tiếp tục hoàn thiện văn bản pháp luật, chính sách quản lý TNN; quy chuẩn, tiêu chuẩn; nâng cao chất lượng nước sạch cấp cho mục đích sinh hoạt. Trong thời gian tới, tiến hành rà soát, sửa đổi Luật TNN, trong đó, cần có quy định khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển TNN và các dịch vụ về nước theo phương thức xã hội hóa; quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sở hữu công trình TNN hoặc thực hiện các dịch vụ về nước. Mặt khác, tập trung xây dựng và phê duyệt các quy hoạch TNN; tổng kiểm kê, xây dựng cơ sở dữ liệu, chia sẻ thông tin TNN; xây dựng hệ thống giám sát TNN; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra; đề xuất phương án tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt; đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

Phát biểu góp ý cho báo cáo, đa số thành viên Đoàn giám sát đánh giá cao nội dung báo cáo của Bộ TN&MT. Để làm rõ hơn thách thức về ANNN, các đại biểu đề nghị Bộ TN&MT đánh giá thêm vấn đề an ninh nước ngầm; đánh giá tác động của ANNN đến hoạt động kinh tế – xã hội; vấn đề về xung đột trong điều hòa nguồn nước, xử lý cân bằng lợi ích giữa các đối tượng sử dụng nước, giữa các địa phương và các quốc gia trong thời điểm thiếu nước, khan hiếm nước; làm rõ chính sách giải quyết ANNN gắn với sinh kế người dân; đồng thời cần nhận diện và đưa ra giải pháp mang tính vĩ mô hơn về vấn đề ANNN.

Xác định mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước

Tiếp thu những ý kiến đóng góp của các thành viên trong đoàn công tác, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà nêu ra những vấn đề tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý TNN, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ chính sách pháp luật. Theo Bộ trưởng, Bộ TN&MT mong muốn thông qua cuộc giám sát này, đề xuất Đoàn công tác, báo cáo Quốc hội ban hành Nghị quyết chuyên đề về ANNN với các giải pháp đồng bộ từ chính sách đến thực hiện; trong đó, yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý nguồn nước, sử dụng nước và cấp nước sinh hoạt. Phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về TNN, của các bộ có quản lý ngành sử dụng TNN và chính quyền địa phương các cấp; giữa quản lý nguồn nước và quản lý hoạt động khai thác, sử dụng trong các LVS.

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, phải thay đổi tư duy và quan điểm về tiếp cận ANNN, cần nhận diện rõ các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh TNN. Trong đó, xác định mục tiêu, chiến lược, quy hoạch mang tính hệ thống, đảm bảo ANNN vừa có tầm nhìn dài hạn vừa có sự phân khúc cho từng giai đoạn.

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh, trước mắt và lâu dài phải tạo được nguồn nước nội sinh, giảm sự phụ thuộc vào nguồn nước quốc tế, đặt ra các kịch bản để có giải pháp ứng phó chủ động, kịp thời; xây dựng hệ thống trữ nước; chính sách trồng rừng, sinh thủy; quản lý chặt chẽ nguồn nước ngầm; có cơ chế đầu tư đối với các nguồn lực, liên thông các hồ đập, các con sông để đảm bảo điều hòa chung; phải tiết kiệm nước, thực hiện cơ chế thị trường đối với TNN với phương châm người dùng nước phải trả tiền với giá cả hợp lý; người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền thông qua các công cụ thuế, phí hợp lý. Đồng thời, cương quyết chống ô nhiễm nguồn nước, trong đó, làm sạch nguồn nước đang bị ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước chưa bị ô nhiễm; đảm bảo thống nhất và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TNN.

 

                                                                                                                                                            PHƯƠNG CHI

There are no comments yet

Tin mới hơn ...